Nếp ngự Sa Huỳnh và nếp Cút ở Quảng Ngãi xưa là sản vật tiến vua vì nổi tiếng thơm, ngon. Thế nhưng giống lúa này năng suất thấp, trong bối cảnh các giống lúa lai, giống năng suất cao nhập khẩu ngày càng chiếm ưu thế.
Tìm hiểu thực tế TS Nguyễn Thanh Liêm, Giám đốc chương trình đào tạo ngành Nông học, Trường Đại học Quy Nhơn nhận thấy giống bị lẫn tạp, không đồng đều, hương thơm nhạt dần. Xuất thân từ gia đình thuần nông ở miền quê Đức Phổ, Quảng Ngãi, kết hợp với 8 năm kinh nghiệm tu nghiệp ở nước ngoài nghiên cứu về cây lúa, ông nhận thấy cần sớm phục tráng giống lúa quý này. Năm 2022 TS Liêm đề xuất Sở Khoa học & Công nghệ Quảng Ngãi bảo tồn nguồn gene giống nếp ngự Sa Huỳnh và nếp Cút, được phê duyệt.

Mẫu nếp ngự Sa Huỳnh được TS Liêm thu thập để nghiên cứu. Ảnh: Nhân vật cung cấp
Năm 2022, khi bắt tay vào nghiên cứu, TS Liêm cùng cộng sự khảo sát tại hơn 120 hộ dân tại Đức Phổ và Tư Nghĩa, thu thập khoảng 200 mẫu lúa nếp.
Có mẫu chỉ còn lại vài lon giống, được người dân giữ lại như một thói quen, không còn nhiều giá trị trong sản xuất. Tuy nhiên, với nhóm nghiên cứu, đó lại là nguồn vật liệu di truyền quý.
Các mẫu được đưa về Trường Đại học Quy Nhơn để đánh giá. Kết quả cho thấy tỷ lệ nảy mầm của nếp ngự Sa Huỳnh dao động từ 87,33% đến 97,76%. Với nếp Cút, tỷ lệ này thấp hơn, khoảng 80% đến 90,67%, trung bình hơn 85%.
Chất lượng hạt cũng được nhóm phân tích chi tiết. Với nếp ngự Sa Huỳnh, tỷ lệ gạo nguyên đạt trên 52%, có mẫu hơn 62%. Trong khi đó, nếp Cút dao động từ khoảng 49% đến gần 59%. Theo nhóm nghiên cứu, những con số này cho thấy dù suy thoái, các giống nếp đặc sản vẫn còn nền tảng để phục hồi và phát triển.
Trong hơn 3 năm từ cuối 2022 đến 2025, các dòng lúa được đưa ra đồng ruộng, trải qua nhiều thế hệ chọn lọc từ G0 đến G2. Từng cá thể được theo dõi, ghi chép chi tiết về thời gian sinh trưởng, chiều cao, số nhánh, chiều dài bông, số lượng hạt trên mỗi bông, thời gian trổ, khả năng chống đổ, và mùi thơm. Những cá thể không đạt yêu cầu bị loại bỏ. Những cây giữ được đặc tính, tính trạng đặc trưng của giống được giữ lại để nhân giống.
Theo TS Nguyễn Thanh Liêm, quá trình nghiên cứu gặp không ít khó khăn. Có vụ mưa lớn làm đổ cả ruộng thí nghiệm, nhóm phải dựng lại từng bụi lúa để bảo toàn nguồn vật liệu. Công việc lặp lại qua nhiều vụ, đòi hỏi sự kiên nhẫn và chính xác cao.
Trải qua nhiều vụ nghiên cứu và chọn lọc nghiêm ngặt, chỉ những dòng ổn định nhất được giữ lại. Với nếp ngự Sa Huỳnh, nhóm chọn được bốn dòng có đặc tính đồng nhất. Nếp Cút cũng tuyển chọn được bốn dòng tương tự.
Song song đó, bộ dữ liệu mô tả giống được xây dựng đầy đủ. Nếp Ngự gồm 59 chỉ tiêu nông sinh học, nếp Cút có 54 chỉ tiêu. Nhóm đã sử dụng kỹ thuật Sinh học phân tử để đánh giá đa dạng nguồn gene và định danh loài. Đây là lần đầu tiên hai giống nếp địa phương được nhận diện một cách hệ thống cả về kiểu hình lẫn kiểu gene. Kết quả không chỉ giúp phục tráng giống, còn tạo nền tảng khoa học cho việc bảo tồn lâu dài.

Tiến sĩ Nguyễn Thanh Liêm và vợ cầm những bông nếp từ giống đã được phục tráng trên cánh đồng Sa Huỳnh. Ảnh: Nhân vật cung cấp
Từ các dòng chọn lọc, nhóm sản xuất thành công 300 kg giống siêu nguyên chủng cho mỗi loại, đạt tiêu chuẩn quốc gia. Đây là nguồn giống gốc để tiếp tục nhân giống cung cấp cho sản xuất. Các mô hình trình diễn được triển khai tại địa phương để đánh giá hiệu quả thực tế.
Giống nếp Ngự Sa Huỳnh sau phục tráng, thời gian sinh trưởng còn khoảng 119 ngày, ngắn hơn giống cũ. Chiều cao cây giảm xuống còn 132 cm, giúp hạn chế đổ ngã. Năng suất đạt khoảng 4,82 tấn/ha (tăng trên 40% so với giống chưa phục tráng). Ở mức giá khoảng 20.000 đồng mỗi kg, doanh thu đạt hơn 94 triệu đồng/ha, lãi ròng hơn 45 triệu đồng, cao hơn sản xuất đại trà trên 10 triệu đồng.
Đối với nếp Cút thời gian sinh trưởng khoảng 153 ngày. Năng suất đạt khoảng 3,62 tấn mỗi ha (tăng khoảng trên 10% so với giống chưa phục tráng).
Một trong những thay đổi rõ nét là kỹ thuật canh tác. Người dân không còn cấy dày như trước mà chuyển sang mật độ khoảng 45 khóm trên mỗi mét vuông. Mỗi khóm cấy 2-3 tép, giúp cây phát huy khả năng đẻ nhánh. Lượng phân bón được điều chỉnh hợp lý, giảm sâu bệnh và chi phí. "Giống phục tráng ổn định hơn, ít lẫn tạp, gạo thơm hơn", anh Huỳnh Trọng Triệu, một nông dân tham gia mô hình, nói.
Theo TS Liêm, thành quả của đề tài không chỉ nằm ở năng suất hay lợi nhuận. Một khi hệ thống giống đã được hình thành, từ siêu nguyên chủng đến nguyên chủng, nếu được duy trì đúng cách, sẽ tránh tình trạng thoái hóa lặp lại.
Hiện nhóm nghiên cứu tiếp tục nhân giống từ nguồn nguyên chủng, đồng thời triển khai các mô hình sản xuất quy mô nhỏ. Một số diện tích đã được mở rộng, hướng tới hình thành vùng trồng tập trung.

TS Nguyễn Thanh Liêm cùng người nông dân trồng nếp trên các ruộng tham gia mô hình nghiên cứu. Ảnh: Nhân vật cung cấp
Hôm 16/3, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ngãi đã tổng kết đề tài. Ông Phan Văn Hiếu, Phó giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ngãi đánh giá, việc phục tráng thành công hai giống nếp ngự Sa Huỳnh và nếp Cút có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Tỉnh Quảng Ngãi đang nghiên cứu ứng dụng đề tài này vào sản xuất và mở rộng vùng trồng.
TS Nguyễn Thanh Liêm đề xuất, các nhà kết hợp mở rộng vùng trồng, tổ chức liên kết và tiêu thụ sản phẩm. Riêng với giống nếp ngự Sa Huỳnh, ông cho rằng gắn với không gian của nền văn hóa Sa Huỳnh - một trong những nền văn hóa cổ ở Việt Nam. Sản phẩm từ nếp có thể làm điểm nhấn trong ngành du lịch, rượu nếp có thể kết hợp với sâm Ngọc Linh tạo thành đặc sản của tỉnh Quảng Ngãi mới. Ông cũng đề nghị các cơ quan chức năng xây dựng chỉ dẫn địa lý và có cơ chế quản lý giống tập trung để bảo tồn gene thay vì để nông dân tự giữ giống.
Phạm Linh



































