ao-tu-than-1756180867.jpg?w=1200&h=0&q=100&dpr=1&fit=crop&s=pkV9BECYGgTWuOxk-0_DwQ

Những người phụ nữ mặc áo tứ thân đi qua cầu Long Biên, Hà Nội thập niên 1940. Ảnh: American Geographical Society Library

Giai đoạn 1930-1975 là thời kỳ có ý nghĩa lớn lao trong lịch sử Việt Nam với những cuộc đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, bắt đầu từ khi Đảng ra đời năm 1930, đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành chính quyền, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cuộc kháng chiến chống Pháp, sự chia cắt hai miền và kết thúc với đại thắng Mùa xuân năm 1975 thống nhất đất nước.

Trong bối cảnh ấy, nhiều món đồ đã đi cùng năm tháng, gắn liền với cuộc sống và chiến đấu của mọi người, góp phần tạo nên một bức tranh khắc họa hình ảnh người Việt rõ nét. Trong số này phải kể tới áo tứ thân - trang phục phổ biến hàng ngày của phụ nữ miền Bắc ở thủ đô và nông thôn những năm 1930-1950.

Thiết kế đặc trưng với thân trước là hai tà tách riêng, thân sau được khâu ghép lại với nhau. Áo được mặc kèm yếm đào, váy đụp hoặc quần đen, thắt lưng, khăn mỏ quạ và nón quai thao. Để thuận lợi hơn cho việc đồng áng, người mặc có thể buộc hai tà trước, giúp gọn gàng hơn.

Những người phụ nữ mặc áo tứ thân đi qua cầu Long Biên, Hà Nội thập niên 1940. Ảnh: American Geographical Society Library

Giai đoạn 1930-1975 là thời kỳ có ý nghĩa lớn lao trong lịch sử Việt Nam với những cuộc đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, bắt đầu từ khi Đảng ra đời năm 1930, đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành chính quyền, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cuộc kháng chiến chống Pháp, sự chia cắt hai miền và kết thúc với đại thắng Mùa xuân năm 1975 thống nhất đất nước.

Trong bối cảnh ấy, nhiều món đồ đã đi cùng năm tháng, gắn liền với cuộc sống và chiến đấu của mọi người, góp phần tạo nên một bức tranh khắc họa hình ảnh người Việt rõ nét. Trong số này phải kể tới áo tứ thân - trang phục phổ biến hàng ngày của phụ nữ miền Bắc ở thủ đô và nông thôn những năm 1930-1950.

Thiết kế đặc trưng với thân trước là hai tà tách riêng, thân sau được khâu ghép lại với nhau. Áo được mặc kèm yếm đào, váy đụp hoặc quần đen, thắt lưng, khăn mỏ quạ và nón quai thao. Để thuận lợi hơn cho việc đồng áng, người mặc có thể buộc hai tà trước, giúp gọn gàng hơn.

ao-tu-than-3-1756188200.jpg?w=1200&h=0&q=100&dpr=1&fit=crop&s=xO003jwAAr8JsS6gmv94Og

Dần dần, khi văn hóa phương Tây du nhập, áo tứ thân truyền thống được thay thế bằng trang phục hiện đại. Đến những năm 1980, áo tứ thân hầu như chỉ còn được người dân mặc trong các lễ hội. Từ những năm 1990 đến nay, áo tứ thân xuất hiện trên sân khấu, điện ảnh, MV. Khoảng 10 năm nay, nhiều chị em thuê trang phục này để mặc khi đi chụp hình, với giá khoảng 60.000 - 90.000 đồng một bộ. Ảnh: flickr Dinh Van Linh

Dần dần, khi văn hóa phương Tây du nhập, áo tứ thân truyền thống được thay thế bằng trang phục hiện đại. Đến những năm 1980, áo tứ thân hầu như chỉ còn được người dân mặc trong các lễ hội. Từ những năm 1990 đến nay, áo tứ thân xuất hiện trên sân khấu, điện ảnh, MV. Khoảng 10 năm nay, nhiều chị em thuê trang phục này để mặc khi đi chụp hình, với giá khoảng 60.000 - 90.000 đồng một bộ. Ảnh: flickr Dinh Van Linh

non-1756196154.jpg?w=1200&h=0&q=100&dpr=1&fit=crop&s=SA2iMo2ByTsWSymtEPGEGg

Đi kèm với những bộ tứ thân là nón quai thao (phải). Đường kính mặt nón chừng 70-80 cm, lợp lá cọ, thành nón cao 10-12 cm. Phần trung tâm gắn một vành tròn vừa đầu, gọi là khua. Khua cần phải cứng để chịu đựng được sức nặng, gồm những sợi tre nhỏ chuốt bóng công phu, khâu lại với nhau bằng chỉ tơ nhiều màu sắc.

Bên cạnh quai thao, người dân còn sử dụng nón lá (trái) với hình chóp nhọn được đan bằng các loại lá khác nhau như lá cọ, rơm, tre, lá dứa, lá dừa đi kèm quai vải. Mẫu thiết kế có từ thời nhà Trần, đến nay, vẫn được nhiều người dân sử dụng khi đi chợ, đi học, làm đồng với trang phục cơ bản hoặc áo dài. Ảnh tư liệu

Đi kèm với những bộ tứ thân là nón quai thao (phải). Đường kính mặt nón chừng 70-80 cm, lợp lá cọ, thành nón cao 10-12 cm. Phần trung tâm gắn một vành tròn vừa đầu, gọi là khua. Khua cần phải cứng để chịu đựng được sức nặng, gồm những sợi tre nhỏ chuốt bóng công phu, khâu lại với nhau bằng chỉ tơ nhiều màu sắc.

Bên cạnh quai thao, người dân còn sử dụng nón lá (trái) với hình chóp nhọn được đan bằng các loại lá khác nhau như lá cọ, rơm, tre, lá dứa, lá dừa đi kèm quai vải. Mẫu thiết kế có từ thời nhà Trần, đến nay, vẫn được nhiều người dân sử dụng khi đi chợ, đi học, làm đồng với trang phục cơ bản hoặc áo dài. Ảnh tư liệu

non-quai-thao-ngay-nay-1756189687.jpg?w=1200&h=0&q=100&dpr=1&fit=crop&s=xXxuRmKj2UHS5rYrsE6__A

Ngày nay, hình ảnh phụ nữ đội nón quai thao, mặc áo tứ thân mớ ba, mớ bảy chỉ còn được thấy trong nghệ thuật dân ca quan họ, hoặc trong các buổi trình diễn thời trang, ca nhạc, phim ảnh, quảng bá, du lịch văn hóa.

Nón quai thao còn trở thành nguồn cảm hứng, được một số nhà thiết kế như Thủy Nguyễn, Hoàng Minh Hà đưa vào trong các bộ sưu tập thời trang hiện đại kết hợp truyền thống. Hai năm trở lại đây, do xu hướng diện cổ phục của giới trẻ phát triển mạnh, nhiều xưởng làm nón còn đính hoa hoặc tua rua trên nón, cho thuê hoặc bán với giá từ 350.000 đồng trở lên. Ảnh: Kiếng Cận Team, TikTok Sudress

Ngày nay, hình ảnh phụ nữ đội nón quai thao, mặc áo tứ thân mớ ba, mớ bảy chỉ còn được thấy trong nghệ thuật dân ca quan họ, hoặc trong các buổi trình diễn thời trang, ca nhạc, phim ảnh, quảng bá, du lịch văn hóa.

Nón quai thao còn trở thành nguồn cảm hứng, được một số nhà thiết kế như Thủy Nguyễn, Hoàng Minh Hà đưa vào trong các bộ sưu tập thời trang hiện đại kết hợp truyền thống. Hai năm trở lại đây, do xu hướng diện cổ phục của giới trẻ phát triển mạnh, nhiều xưởng làm nón còn đính hoa hoặc tua rua trên nón, cho thuê hoặc bán với giá từ 350.000 đồng trở lên. Ảnh: Kiếng Cận Team, TikTok Sudress

ao-dai-le-mur-1756114301.jpg?w=1200&h=0&q=100&dpr=1&fit=crop&s=M7H7t_tFtQzvBe2Nzgsl4Q

Giữa những tà áo tứ thân, ngũ thân, áo dài Le Mur (trái) của họa sĩ Nguyễn Cát Tường nổi lên như một hiện tượng lạ, đánh dấu sự cải cách trong y phục dành cho nữ giới ở thập niên 1930. Giải thích việc vì sao cần cải cách y phục phụ nữ, đầu xuân 1935, trên báo Phong Hóa số 86, ông viết: "Quần áo tuy dùng để che thân thể, nhưng có thể như tấm gương phản chiếu trình độ trí thức một nước".

Từ kiểu áo dài ngũ thân, ông cải biên thành áo không cổ, tay ngắn, không tay, vai bồng, gấu tay loe, không cài cúc, vạt áo ngắn. Những mẫu áo Âu hóa ấy được một bộ phận nhỏ phụ nữ cấp tiến đón nhận. Đến đầu thập niên 1950, người ta hầu như không còn thấy bóng dáng của chiếc áo Le Mur.

Tháng 11/2024, nhà thiết kế Thủy Nguyễn làm Le Mur (phải) "sống" lại trong show thời trang Ru hò xự xang xê cống.Bộ sưu tập đem tới hàng chục mẫu áo với bảng màu rực rỡ, đường cắt táo bạo, kết hợp vạt dài và những chi tiết của thời đại mới như cổ Peter Pan, xếp bèo, cut-out. So với nhiều kiểu áo dài khác, Le Mur thường ít được mọi người ứng dụng trong đời sống hiện tại. Ảnh: Bảo tàng Áo dài, Kiếng Cận Team

Giữa những tà áo tứ thân, ngũ thân, áo dài Le Mur (trái) của họa sĩ Nguyễn Cát Tường nổi lên như một hiện tượng lạ, đánh dấu sự cải cách trong y phục dành cho nữ giới ở thập niên 1930. Giải thích việc vì sao cần cải cách y phục phụ nữ, đầu xuân 1935, trên báo Phong Hóa số 86, ông viết: "Quần áo tuy dùng để che thân thể, nhưng có thể như tấm gương phản chiếu trình độ trí thức một nước".

Từ kiểu áo dài ngũ thân, ông cải biên thành áo không cổ, tay ngắn, không tay, vai bồng, gấu tay loe, không cài cúc, vạt áo ngắn. Những mẫu áo Âu hóa ấy được một bộ phận nhỏ phụ nữ cấp tiến đón nhận. Đến đầu thập niên 1950, người ta hầu như không còn thấy bóng dáng của chiếc áo Le Mur.

Tháng 11/2024, nhà thiết kế Thủy Nguyễn làm Le Mur (phải) "sống" lại trong show thời trang Ru hò xự xang xê cống.Bộ sưu tập đem tới hàng chục mẫu áo với bảng màu rực rỡ, đường cắt táo bạo, kết hợp vạt dài và những chi tiết của thời đại mới như cổ Peter Pan, xếp bèo, cut-out. So với nhiều kiểu áo dài khác, Le Mur thường ít được mọi người ứng dụng trong đời sống hiện tại. Ảnh: Bảo tàng Áo dài, Kiếng Cận Team

ao-dai-ngu-than-1756196295.jpg?w=1200&h=0&q=100&dpr=1&fit=crop&s=UH6RYs-fV9hOsB20wgKCCw

Ngoài áo tứ thân, áo dài ngũ thân là trang phục phổ biến của cả người dân Bắc Bộ và Nam Bộ những năm kháng chiến chống Pháp trở về trước. Đó là loại áo gồm năm mảnh, cổ cao, thẳng và vuông, tượng trưng cho sự chính trực, mặc cùng quần dài. Bốn thân ngoài tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, một thân trong tượng trưng cho người mặc. Áo luôn có năm cúc, thể hiện đạo lý làm người của người Việt là nhân - lễ - nghĩa - trí - tín.

Đối với các dịp trang trọng, nam giới mặc áo ngũ thân với nút làm bằng kim loại hoặc ngọc, đôi khi đội khăn vấn hoặc nón lá, tùy địa vị xã hội. Áo của phụ nữ có cổ thấp hơn, tay hẹp, vạt thường dài qua gối, rộng và xòe ra, mặc kèm yếm bên trong. Màu sắc và hoa văn có thể thay đổi theo dịp, với các sắc như đỏ, hồng cho lễ cưới, đen hoặc nâu cho đời sống hàng ngày. Ảnh: Life

Ngoài áo tứ thân, áo dài ngũ thân là trang phục phổ biến của cả người dân Bắc Bộ và Nam Bộ những năm kháng chiến chống Pháp trở về trước. Đó là loại áo gồm năm mảnh, cổ cao, thẳng và vuông, tượng trưng cho sự chính trực, mặc cùng quần dài. Bốn thân ngoài tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, một thân trong tượng trưng cho người mặc. Áo luôn có năm cúc, thể hiện đạo lý làm người của người Việt là nhân - lễ - nghĩa - trí - tín.

Đối với các dịp trang trọng, nam giới mặc áo ngũ thân với nút làm bằng kim loại hoặc ngọc, đôi khi đội khăn vấn hoặc nón lá, tùy địa vị xã hội. Áo của phụ nữ có cổ thấp hơn, tay hẹp, vạt thường dài qua gối, rộng và xòe ra, mặc kèm yếm bên trong. Màu sắc và hoa văn có thể thay đổi theo dịp, với các sắc như đỏ, hồng cho lễ cưới, đen hoặc nâu cho đời sống hàng ngày. Ảnh: Life

ao-ba-ba3-1756113915.jpg?w=1200&h=0&q=100&dpr=1&fit=crop&s=IEhhupTnySHUe3W1nkXMiw

Từ những năm đầu thế kỷ 20 cho đến suốt thập niên 1970, 1980, áo bà ba (áo cánh) gắn bó với đời sống của người dân miền Bắc, Nam. Thiết kế không cổ, chiết eo, xẻ tà bên hông, kết hợp khăn rằn, nón lá. Tầng lớp lao động thường mặc áo màu nâu hoặc đen với quần lửng.

Ngày nay, áo bà ba được cải tiến, chiết eo rõ hơn để tôn dáng, đường xẻ cổ hình tim thay vì tròn truyền thống, tay raglan tạo phom mềm mại, hiện đại. Màu sắc, chất liệu cũng phong phú hơn như lụa, voan, satin, gấm, voan hoa thay vì vải phin nõn, vải ú, vải sơn đầm như thời xưa. Ảnh: Life, Asiatravel

Từ những năm đầu thế kỷ 20 cho đến suốt thập niên 1970, 1980, áo bà ba (áo cánh) gắn bó với đời sống của người dân miền Bắc, Nam. Thiết kế không cổ, chiết eo, xẻ tà bên hông, kết hợp khăn rằn, nón lá. Tầng lớp lao động thường mặc áo màu nâu hoặc đen với quần lửng.

Ngày nay, áo bà ba được cải tiến, chiết eo rõ hơn để tôn dáng, đường xẻ cổ hình tim thay vì tròn truyền thống, tay raglan tạo phom mềm mại, hiện đại. Màu sắc, chất liệu cũng phong phú hơn như lụa, voan, satin, gấm, voan hoa thay vì vải phin nõn, vải ú, vải sơn đầm như thời xưa. Ảnh: Life, Asiatravel

ao-tran-thu-ao-bong-1756200886.jpg?w=1200&h=0&q=100&dpr=1&fit=crop&s=iBf2TWkK7hZnn4DeyuGpsw

Chiếc áo trấn thủ (trái) anh hùng Cù Chính Lan thuộc Đại đội 12, Tiểu đoàn 353, Đại đoàn 304, mặc trong trận tiêu diệt xe tăng địch ở Giang Mỗ, xã Bình Thanh, tỉnh Hòa Bình, tháng 12/1951. Áo bông chần (phải) chiến sĩ Trung đoàn 174 đã mặc và hy sinh trong trận chiến đấu tại Mường Pồn, huyện Điện Biên, tỉnh Lai Châu, ngày 12/12/1953. Ảnh: Ý Ly

Mùa đông năm 1947, trong cuộc chiến chống quân xâm lược Pháp, bộ đội có thêm áo trấn thủ. Áo đơn giản, ngắn đến thắt lưng, cổ tròn, không tay, gồm hai mảnh, một bên vai cài cúc, ở giữa nhồi bông, chần hình quả trám. Áo gọn gàng, giữ nhiệt tốt. Những năm kháng chiến gian khổ hiếm bông, có thời kỳ người thợ phải dùng lông vịt hay vỏ cây sui đập rập, phơi khô thay bông. Cúc, khuy cũng thiếu, phải dùng dây vải buộc hoặc làm cúc bằng giấy ép tẩm sơn thay thế.

Đến chiến dịch Tây Bắc năm 1952, để chống rét nơi rừng núi, bộ đội được phát áo trấn thủ dài tay. Đến năm 1953, bộ đội bắt đầu được trang bị quân phục thống nhất. Chiến dịch Điện Biên Phủ đầu năm 1954, các chiến sĩ được mặc áo bông mới dài tay, súng đạn, balô, bao gạo đầy ắp trên người, đi hàng một, nối đuôi nhau bước ra trận địa.

Ngày nay, áo trấn thủ chỉ còn được sử dụng trong các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, phim ảnh. Một số quán cafe trưng bày mẫu áo như biểu tượng gợi ký ức về quá khứ hào hùng của dân tộc.

Chiếc áo trấn thủ (trái) anh hùng Cù Chính Lan thuộc Đại đội 12, Tiểu đoàn 353, Đại đoàn 304, mặc trong trận tiêu diệt xe tăng địch ở Giang Mỗ, xã Bình Thanh, tỉnh Hòa Bình, tháng 12/1951. Áo bông chần (phải) chiến sĩ Trung đoàn 174 đã mặc và hy sinh trong trận chiến đấu tại Mường Pồn, huyện Điện Biên, tỉnh Lai Châu, ngày 12/12/1953. Ảnh: Ý Ly

Mùa đông năm 1947, trong cuộc chiến chống quân xâm lược Pháp, bộ đội có thêm áo trấn thủ. Áo đơn giản, ngắn đến thắt lưng, cổ tròn, không tay, gồm hai mảnh, một bên vai cài cúc, ở giữa nhồi bông, chần hình quả trám. Áo gọn gàng, giữ nhiệt tốt. Những năm kháng chiến gian khổ hiếm bông, có thời kỳ người thợ phải dùng lông vịt hay vỏ cây sui đập rập, phơi khô thay bông. Cúc, khuy cũng thiếu, phải dùng dây vải buộc hoặc làm cúc bằng giấy ép tẩm sơn thay thế.

Đến chiến dịch Tây Bắc năm 1952, để chống rét nơi rừng núi, bộ đội được phát áo trấn thủ dài tay. Đến năm 1953, bộ đội bắt đầu được trang bị quân phục thống nhất. Chiến dịch Điện Biên Phủ đầu năm 1954, các chiến sĩ được mặc áo bông mới dài tay, súng đạn, balô, bao gạo đầy ắp trên người, đi hàng một, nối đuôi nhau bước ra trận địa.

Ngày nay, áo trấn thủ chỉ còn được sử dụng trong các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, phim ảnh. Một số quán cafe trưng bày mẫu áo như biểu tượng gợi ký ức về quá khứ hào hùng của dân tộc.

dep-lop-1756115419.jpg?w=1200&h=0&q=100&dpr=1&fit=crop&s=YrMKNugBs1lxRNzanajExg

Năm 1946 -1947, hành trang của người chiến sĩ chỉ có một đôi dép lốp đen (trái) và vài loại thuốc chữa kiết lỵ. Từ khu Bốn trở ra, dép này được gọi là dép Bình Trị Thiên. Dép cao su được xem là một sáng tạo có giá trị lịch sử, giải quyết nhu cầu cho bộ đội, người dân suốt thời gian kháng chiến chống Pháp và Mỹ.

Chiến sĩ lấy lốp xe ôtô, đo chân cắt thành đế dép, dùi tám lỗ để xỏ quai bằng cao su đen lấy từ xăm ô tô: hai quai chéo phía trên, hai quai ngang phía dưới làm quai hậu và quai vòng. Bề ngang quai khoảng một cm. Giữa quai và đế được cố định chắc chắn vào nhau không bằng bất cứ một thứ keo kết dính nào, mà nhờ vào sự giãn nở của cao su. Đó là những đôi dép đơn giản, bền, tiện dụng, dễ làm, dễ bảo quản, vệ sinh, thích ứng trong mọi điều kiện địa hình, khí hậu, thời tiết ở vùng rừng núi trong những năm tháng chiến đấu.

Ngày nay, dép lốp (phải) vẫn còn được bán như một vật lưu niệm của khách du lịch hoặc những nhà sưu tập, hoặc được xem như một phong cách thời trang của giới trẻ. Con cháu nghệ nhân Phạm Quang Xuân của thương hiệu Vua dép lốp nổi tiếng ở Hà Nội vẫn tiếp tục sản xuất, mở rộng kinh doanh ở 60 nước trên thế giới, với giá bán từ 250.000 - 450.000 đồng một đôi. Những đôi đặt hàng riêng có thể lên tiền triệu.

Ảnh: Ý Ly, Vua Dép Lốp

Năm 1946 -1947, hành trang của người chiến sĩ chỉ có một đôi dép lốp đen (trái) và vài loại thuốc chữa kiết lỵ. Từ khu Bốn trở ra, dép này được gọi là dép Bình Trị Thiên. Dép cao su được xem là một sáng tạo có giá trị lịch sử, giải quyết nhu cầu cho bộ đội, người dân suốt thời gian kháng chiến chống Pháp và Mỹ.

Chiến sĩ lấy lốp xe ôtô, đo chân cắt thành đế dép, dùi tám lỗ để xỏ quai bằng cao su đen lấy từ xăm ô tô: hai quai chéo phía trên, hai quai ngang phía dưới làm quai hậu và quai vòng. Bề ngang quai khoảng một cm. Giữa quai và đế được cố định chắc chắn vào nhau không bằng bất cứ một thứ keo kết dính nào, mà nhờ vào sự giãn nở của cao su. Đó là những đôi dép đơn giản, bền, tiện dụng, dễ làm, dễ bảo quản, vệ sinh, thích ứng trong mọi điều kiện địa hình, khí hậu, thời tiết ở vùng rừng núi trong những năm tháng chiến đấu.

Ngày nay, dép lốp (phải) vẫn còn được bán như một vật lưu niệm của khách du lịch hoặc những nhà sưu tập, hoặc được xem như một phong cách thời trang của giới trẻ. Con cháu nghệ nhân Phạm Quang Xuân của thương hiệu Vua dép lốp nổi tiếng ở Hà Nội vẫn tiếp tục sản xuất, mở rộng kinh doanh ở 60 nước trên thế giới, với giá bán từ 250.000 - 450.000 đồng một đôi. Những đôi đặt hàng riêng có thể lên tiền triệu.

Ảnh: Ý Ly, Vua Dép Lốp

mu-coi-1-1756117757.jpg?w=1200&h=0&q=100&dpr=1&fit=crop&s=9_hfYDAV618XP0CnMC5T1w

Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ 1954-1975, mũ cối là vật dụng quen thuộc của "Bộ đội Cụ Hồ", thanh niên xung phong và dân quân tự vệ. Mũ không chỉ có tác dụng che nắng, mưa, chống va đập nhẹ, mà còn có thể dùng múc nước, làm ghế ngồi, gác súng.

Mũ cối ban đầu có tên là mũ cát (casque) - loại mũ cứng của người Pháp du nhập vào Việt Nam từ đầu thế kỷ 20. Năm 1956, Cục Quân nhu, Tổng cục Hậu cần đề xuất sản xuất mũ giống mũ cát nhưng chất liệu làm mũ bền chắc hơn, gọi là mũ cối. Năm 1957, mẫu mũ cối đã được Bộ Quốc phòng phê duyệt và đưa vào sản xuất.

Cốt mũ làm bằng bột gỗ, có keo tổng hợp liên kết, ép định hình và cuốn mép vành để tăng cường độ cứng. Bên ngoài mũ bọc vải màu xanh lá cây để ngụy trang. Ngoài ra, mũ còn có quai tăng giảm vừa vòng đầu, giữ được tư thế ổn định trong hoạt động chiến đấu, huấn luyện. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ 1954-1975, mũ cối là vật dụng quen thuộc của "Bộ đội Cụ Hồ", thanh niên xung phong và dân quân tự vệ. Mũ không chỉ có tác dụng che nắng, mưa, chống va đập nhẹ, mà còn có thể dùng múc nước, làm ghế ngồi, gác súng.

Mũ cối ban đầu có tên là mũ cát (casque) - loại mũ cứng của người Pháp du nhập vào Việt Nam từ đầu thế kỷ 20. Năm 1956, Cục Quân nhu, Tổng cục Hậu cần đề xuất sản xuất mũ giống mũ cát nhưng chất liệu làm mũ bền chắc hơn, gọi là mũ cối. Năm 1957, mẫu mũ cối đã được Bộ Quốc phòng phê duyệt và đưa vào sản xuất.

Cốt mũ làm bằng bột gỗ, có keo tổng hợp liên kết, ép định hình và cuốn mép vành để tăng cường độ cứng. Bên ngoài mũ bọc vải màu xanh lá cây để ngụy trang. Ngoài ra, mũ còn có quai tăng giảm vừa vòng đầu, giữ được tư thế ổn định trong hoạt động chiến đấu, huấn luyện. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

mu-coi-2-1756118895.jpg?w=1200&h=0&q=100&dpr=1&fit=crop&s=OaY76gCI8hii1WWPKZuJkg

Mũ cối ngày nay tiếp tục được sử dụng rộng rãi không chỉ trong quân đội mà còn phổ biến trong dân sự, từ người lao động như nông dân, thợ hồ đến những người yêu thích phong cách thời trang độc đáo. Mũ được ưa chuộng nhờ độ bền cao, khả năng che chắn tốt. Với nhiều người, thiết kế còn là một kỷ vật gắn liền với hồi ức thời bao cấp và chiến tranh. Hiện nay, một số du khách quốc tế cũng mua mũ cối làm quà lưu niệm khi đến Việt Nam. Ảnh: Võ Thạnh

Mũ cối ngày nay tiếp tục được sử dụng rộng rãi không chỉ trong quân đội mà còn phổ biến trong dân sự, từ người lao động như nông dân, thợ hồ đến những người yêu thích phong cách thời trang độc đáo. Mũ được ưa chuộng nhờ độ bền cao, khả năng che chắn tốt. Với nhiều người, thiết kế còn là một kỷ vật gắn liền với hồi ức thời bao cấp và chiến tranh. Hiện nay, một số du khách quốc tế cũng mua mũ cối làm quà lưu niệm khi đến Việt Nam. Ảnh: Võ Thạnh

ba-lo-con-coc-1756119443.jpg?w=1200&h=0&q=100&dpr=1&fit=crop&s=p65We2-rH9il12gawm7oHA

"Chú là chú em/ Chú đi tiền tuyến, nửa đêm chú về/ Ba lô con cóc to bè/ Mũ tai bèo bẽ vành xòe trên vai". Chiếc ba lô con cóc xanh rêu đã vào bài thơ Chú giải phóng quân của tác giả Cẩm Thơ với giọng văn trong trẻo và thân thuộc. Trong những năm chống Mỹ, chiến dịch xẻ dọc Trường Sơn, ba lô con cóc như người bạn tri kỷ, chứa đựng những kỷ niệm của người lính trong cuộc đời quân ngũ. Ảnh: Ý Ly

Tên ba lô bắt nguồn từ hình dáng giống con cóc, với phần bụng phình to, đáy rộng và phần trên thon lại, hai bên có các ngăn phụ phồng lên khi đựng đồ. Món đồ giống gia tài thu nhỏ của các chiến sĩ, đựng nhiều vật dụng thiết yếu như quần áo, tăng, võng, kim chỉ, thuốc, cuốn sổ, bút, đèn dầu, cao sao vàng.

Hiện nay, ba lô con cóc vẫn tiếp tục được Cục Quân nhu, Bộ Quốc phòng sản xuất, có thêm phiên bản họa tiết rằn ri, để sử dụng trong quân đội. Thiết kế không lỗi thời, được yêu thích vì vẻ ngầu, bền chắc. Nhiều người còn sử dụng chúng khi đi học, đi làm, du lịch hay dã ngoại.

"Chú là chú em/ Chú đi tiền tuyến, nửa đêm chú về/ Ba lô con cóc to bè/ Mũ tai bèo bẽ vành xòe trên vai". Chiếc ba lô con cóc xanh rêu đã vào bài thơ Chú giải phóng quân của tác giả Cẩm Thơ với giọng văn trong trẻo và thân thuộc. Trong những năm chống Mỹ, chiến dịch xẻ dọc Trường Sơn, ba lô con cóc như người bạn tri kỷ, chứa đựng những kỷ niệm của người lính trong cuộc đời quân ngũ. Ảnh: Ý Ly

Tên ba lô bắt nguồn từ hình dáng giống con cóc, với phần bụng phình to, đáy rộng và phần trên thon lại, hai bên có các ngăn phụ phồng lên khi đựng đồ. Món đồ giống gia tài thu nhỏ của các chiến sĩ, đựng nhiều vật dụng thiết yếu như quần áo, tăng, võng, kim chỉ, thuốc, cuốn sổ, bút, đèn dầu, cao sao vàng.

Hiện nay, ba lô con cóc vẫn tiếp tục được Cục Quân nhu, Bộ Quốc phòng sản xuất, có thêm phiên bản họa tiết rằn ri, để sử dụng trong quân đội. Thiết kế không lỗi thời, được yêu thích vì vẻ ngầu, bền chắc. Nhiều người còn sử dụng chúng khi đi học, đi làm, du lịch hay dã ngoại.

mu-tai-beo-0-1756210440.jpg?w=1200&h=0&q=100&dpr=1&fit=crop&s=DsoiiIQsh7a5nsE5sGlvvA

Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân Phạm Văn Cội (trái) đội mũ tai bèo, tham gia du kích năm 1960. Anh quê ở TP HCM, chỉ huy du kích xã Nhuận Đức, bám trụ vùng Củ Chi với vũ khí thô sơ, chống nhiều trận càn, diệt hàng trăm tên địch. Anh hy sinh tháng 7/1966 ở tuổi 26. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

Những năm ấy trong kháng chiến chống Mỹ, hình ảnh anh giải phóng quân miền Nam còn gắn liền với chiếc mũ tai bèo. Gọi tên như vậy vì mũ có vành rộng và mềm, lượn sóng như những cánh bèo dập dềnh trên sông nước. Những chiếc mũ đầu tiên được cho là xuất hiện ở Bến Tre năm 1960, dần dần được đông đảo các chiến sĩ sử dụng. Đến năm 1966-1967, mũ chính thức nằm trong trang phục của Quân giải phóng miền Nam.

Hiện mũ tai bèo vẫn là bạn đồng hành của các chiến sĩ. Để tôn vinh thiết kế, năm 2009, các nghệ nhân ở Quảng Bình thực hiện chiếc mũ tai bèo khổng lồ cao 2m, đường kính 8m, ra mắt tại Phong Nha - Kẻ Bàng. Trong làng mốt, từ năm 2014 đến nay, mũ tai bèo (phải) trở thành một xu hướng hot được đông đảo giới trẻ và người nổi tiếng ưa chuộng, trong đó có Justin Bieber, Rihanna, hoa hậu Lương Thùy Linh, Miu Lê, Quỳnh Anh Shyn.

Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân Phạm Văn Cội (trái) đội mũ tai bèo, tham gia du kích năm 1960. Anh quê ở TP HCM, chỉ huy du kích xã Nhuận Đức, bám trụ vùng Củ Chi với vũ khí thô sơ, chống nhiều trận càn, diệt hàng trăm tên địch. Anh hy sinh tháng 7/1966 ở tuổi 26. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

Những năm ấy trong kháng chiến chống Mỹ, hình ảnh anh giải phóng quân miền Nam còn gắn liền với chiếc mũ tai bèo. Gọi tên như vậy vì mũ có vành rộng và mềm, lượn sóng như những cánh bèo dập dềnh trên sông nước. Những chiếc mũ đầu tiên được cho là xuất hiện ở Bến Tre năm 1960, dần dần được đông đảo các chiến sĩ sử dụng. Đến năm 1966-1967, mũ chính thức nằm trong trang phục của Quân giải phóng miền Nam.

Hiện mũ tai bèo vẫn là bạn đồng hành của các chiến sĩ. Để tôn vinh thiết kế, năm 2009, các nghệ nhân ở Quảng Bình thực hiện chiếc mũ tai bèo khổng lồ cao 2m, đường kính 8m, ra mắt tại Phong Nha - Kẻ Bàng. Trong làng mốt, từ năm 2014 đến nay, mũ tai bèo (phải) trở thành một xu hướng hot được đông đảo giới trẻ và người nổi tiếng ưa chuộng, trong đó có Justin Bieber, Rihanna, hoa hậu Lương Thùy Linh, Miu Lê, Quỳnh Anh Shyn.

Ý Ly

Nguoi-noi-tieng.com (r) © 2008 - 2022