Phát hiện suy thận sau thời gian dài ăn cá biển sâu

Người đàn ông ngoài 60 tuổi (ở Trung Quốc) rất đam mê câu cá biển và thường xuyên sử dụng cá biển sâu trong bữa ăn hằng ngày. Trong một lần kiểm tra sức khỏe định kỳ, kết quả cho thấy chức năng thận suy giảm – dấu hiệu sớm của suy thận – dù ông không mắc các bệnh lý phổ biến như tăng huyết áp, đái tháo đường hay sử dụng thuốc độc thận.

Sau khi loại trừ các nguyên nhân thường gặp gây suy thận, bác sĩ chỉ định xét nghiệm kim loại nặng. Kết quả cho thấy nồng độ asen trong nước tiểu của bệnh nhân cao gần gấp 6 lần mức an toàn.

Khai thác kỹ tiền sử ăn uống, các bác sĩ nhận thấy ông có thói quen tiêu thụ nhiều cá biển sâu trong thời gian dài. Đây được cho là nguồn tích lũy asen gây ngộ độc mạn tính, từ đó làm tăng nguy cơ suy thận và ảnh hưởng đến chức năng lọc của cơ quan này.

Sau khi ngừng ăn nhiều hải sản biển sâu và được điều trị thải độc theo phác đồ, chức năng thận của bệnh nhân dần cải thiện, giảm nguy cơ tiến triển thành suy thận mạn.

thoi-squen-gay-suy-than-1772273886045903420594.jpg

Ảnh minh họa.

Asen và nguy cơ âm thầm dẫn tới suy thận

Asen, còn gọi là thạch tín, từng được biết đến như một chất độc trong lịch sử. Trong đời sống hiện đại, asen có thể xâm nhập cơ thể qua nước ngầm ô nhiễm, thực phẩm trồng trên đất nhiễm độc, môi trường công nghiệp và một số loại hải sản.

Điều đáng lo ngại là ngộ độc asen mạn tính thường không biểu hiện rầm rộ. Quá trình tích lũy kim loại nặng diễn ra âm thầm, có thể gây suy giảm chức năng gan, tổn thương thần kinh ngoại biên, tăng nguy cơ ung thư gan, phổi, bàng quang và da. Ở thận, phơi nhiễm kéo dài có thể gây viêm ống thận, tổn thương cầu thận và tiến triển thành suy thận nếu không được phát hiện kịp thời.

Vì sao cá biển sâu tiềm ẩn nguy cơ tích lũy kim loại nặng?

Theo bác sĩ Tạ Bỉnh Hiền, bác sĩ phẫu thuật thần kinh tại Bệnh viện trực thuộc Đại học Dương Minh Giao Thông (Đài Loan, Trung Quốc), người dân nên hạn chế ăn thường xuyên các loài cá ăn thịt lớn sống ở biển sâu như cá ngừ, cá mập, cá kiếm. Đây là những loài đứng ở đỉnh chuỗi thức ăn nên có nguy cơ tích lũy kim loại nặng cao hơn theo cơ chế tích lũy sinh học.

Trong môi trường biển vốn tồn tại thủy ngân, chì, asen và cadimi ở mức độ nhất định, cá nhỏ hấp thụ trước các chất này. Khi cá lớn ăn nhiều cá nhỏ trong suốt vòng đời dài, độc chất dần tích tụ trong cơ thể chúng. Khi con người tiêu thụ thường xuyên và với số lượng lớn, nguy cơ phơi nhiễm mạn tính tăng lên, từ đó ảnh hưởng đến hệ thần kinh, tim mạch và đặc biệt là thận.

Một số chuyên gia thận học tại Đài Loan cũng cảnh báo, việc tiêu thụ quá mức cá ăn thịt lớn biển sâu có thể làm tăng nguy cơ xơ cứng động mạch, rối loạn sinh sản, bệnh mạch máu ngoại biên và suy thận do tích tụ kim loại nặng lâu dài.

base64-17722740916021970079569.png

Ăn cá biển sâu thế nào để giảm nguy cơ suy thận?

Các chuyên gia nhấn mạnh không có thực phẩm nào trực tiếp gây suy thận ngay lập tức. Tuy nhiên, chế độ ăn mất cân đối và phơi nhiễm kim loại nặng kéo dài có thể tạo nền tảng bất lợi cho sức khỏe.

Kim loại nặng khi tích lũy mạn tính có thể kích hoạt phản ứng viêm, gây stress oxy hóa, rối loạn cơ chế sửa chữa ADN và làm tổn thương mô thận theo thời gian. Đây là những yếu tố có thể góp phần làm tăng nguy cơ suy thận và nhiều bệnh lý mạn tính khác.

Để hạn chế rủi ro, nhóm cá ăn thịt lớn sống ở biển sâu như cá ngừ, cá kiếm, cá mập chỉ nên tiêu thụ tối đa một lần mỗi tuần, với lượng khoảng 50 gram mỗi lần. Nên tránh ăn da và nội tạng của các loại cá này để giảm lượng kim loại nặng hấp thu.

Phụ nữ mang thai, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ được khuyến cáo hạn chế hoặc tránh nhóm cá biển sâu ăn thịt lớn. Thay vào đó, nên ưu tiên các loại cá nhỏ giàu omega-3 như cá thu, cá trích, cá mòi. Những lựa chọn này vừa tốt cho tim mạch, não bộ, vừa giúp giảm nguy cơ phơi nhiễm kim loại nặng, qua đó góp phần bảo vệ chức năng thận và phòng ngừa suy thận lâu dài.

6 nhóm người cần cân nhắc khi ăn cá

ca-bien-sau-gay-suy-than-1772274053847365642441.jpeg

Ảnh minh họa.

Người dị ứng với cá

Dị ứng cá là phản ứng của hệ miễn dịch với protein trong cá, có thể xảy ra ngay cả khi cá tươi và nấu chín. Triệu chứng từ nhẹ như phát ban, buồn nôn đến nặng như khó thở, sốc phản vệ. Người từng dị ứng nên tránh tất cả sản phẩm từ cá và đọc kỹ nhãn thực phẩm.

Người mắc bệnh gout

Cá chứa purin, đây là chất chuyển hóa thành acid uric, làm tăng nguy cơ khởi phát cơn gout. Người bệnh nên hạn chế các loại cá giàu purin như cá ngừ, cá trích, cá mòi, cá thu và chỉ ăn với lượng vừa phải theo tư vấn bác sĩ.

Người rối loạn chức năng máu

Một số thành phần trong cá, đặc biệt omega-3 và vitamin E, có thể làm loãng máu và ức chế kết tập tiểu cầu. Vì vậy người giảm tiểu cầu, dễ xuất huyết hoặc đang dùng thuốc chống đông cần thận trọng khi ăn cá.

Người rối loạn tiêu hóa

Người viêm loét dạ dày, hội chứng ruột kích thích hoặc tiêu hóa yếu có thể khó tiêu khi ăn cá, nhất là cá béo giàu omega-3. Chất béo tiêu hóa chậm dễ gây đầy bụng, khó chịu và làm nặng triệu chứng bệnh.

Người tổn thương gan, thận nặng

Gan và thận suy giảm làm giảm khả năng xử lý protein và đào thải độc chất như thủy ngân trong cá. Người bệnh nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi bổ sung cá vào chế độ ăn.

Phụ nữ mang thai và cho con bú

Cá cung cấp omega-3 tốt cho thai nhi nhưng cần chú ý hàm lượng thủy ngân. Nên ưu tiên cá ít thủy ngân (cá hồi, cá mòi, cá rô phi), ăn 2–3 khẩu phần/tuần và tránh các loại cá thủy ngân cao như cá kiếm, cá mập, cá thu vua.

suy-than-chay-than-1772180217536537726883-30-0-456-681-crop-17721804396871823118067.jpgSau Tết, xuất hiện những dấu hiệu này cần cảnh giác suy thận cấp, người Việt tuyệt đối không bỏ qua

GĐXH - Sau Tết, thói quen ăn uống thất thường, sử dụng nhiều rượu bia, ăn mặn hoặc lạm dụng thuốc giảm đau... có thể làm tăng nguy cơ suy thận cấp.

Nguoi-noi-tieng.com (r) © 2008 - 2022