Gần đây, cô Uông (31 tuổi, Phúc Kiến) sau 8 năm kiên trì chuẩn bị mang thai cuối cùng cũng đón được con yêu. Tuy nhiên, trong suốt quãng thời gian ấy, bà từng mang thai 4 lần nhưng đều bị sảy thai, thậm chí còn phải trải qua 4 ca phẫu thuật do biến chứng nhau cài răng lược. Điều đáng nói là các xét nghiệm thường quy của hai vợ chồng trước đó đều cho kết quả “không phát hiện bất thường”.

Sau khi các chuyên gia rà soát kỹ tiền sử bệnh và toàn bộ hồ sơ xét nghiệm, nguyên nhân cuối cùng được xác định là do kháng thể kháng nhân (ANA) dương tính, với hiệu giá 1:320. 

Vậy ANA dương tính có ý nghĩa gì? Liệu tình trạng này có biểu hiện lâm sàng rõ rệt hay không? Trong những trường hợp nào cần xét nghiệm kháng thể kháng nhân? 

Bác sĩ Chu Tuyết – Phó trưởng khoa Sản, Bệnh viện Phụ sản Nhi Nam Kinh đã chỉ rõ những vấn đề này.

Bác sĩ Chu Tuyết cho biết: 

“Thực chất, kháng thể kháng nhân dương tính bản thân nó không phải là một bệnh lý, mà chỉ là một chỉ số xét nghiệm, gợi ý khả năng tồn tại rối loạn chức năng miễn dịch. 

Kháng thể kháng nhân là loại kháng thể do hệ miễn dịch của cơ thể tạo ra, tấn công các thành phần trong nhân tế bào của chính mình, giống như việc hệ miễn dịch ‘nhận diện sai’ và quay sang tấn công mô lành. 

Trong trạng thái không mang thai, việc ANA dương tính đơn thuần chưa chắc đồng nghĩa với mắc bệnh. Hiệu giá 1:320 nghĩa là kháng thể vẫn có thể được phát hiện ngay cả khi đã pha loãng 320 lần, mức này cho thấy nguy cơ mắc bệnh tự miễn cao hơn so với hiệu giá thấp".

Như vậy, ANA dương tính chỉ là một “tín hiệu cảnh báo”, chứ không phải “bản án chẩn đoán”. Vậy vì sao những bệnh nhân như cô Uông lại được khuyến nghị làm xét nghiệm này? 

bai20341-1769659285179143055930-1769667129030-1769667133823234445468.jpg

Theo bác sĩ Chu Tuyết, đó thường là quá trình “tìm nguyên nhân từ kết quả”. 

“Trong đa số trường hợp, khi bệnh nhân có tiền sử thai sản không thuận lợi (như sảy thai liên tiếp, thai lưu, thai chết lưu không rõ nguyên nhân ở giữa hoặc cuối thai kỳ, thai chậm phát triển nặng trong tử cung, tiền sản giật, vô sinh…), bác sĩ mới đưa yếu tố miễn dịch vào danh sách sàng lọc. 

Tình trạng miễn dịch bất thường được gợi ý bởi ANA dương tính có thể ảnh hưởng đến thai kỳ thông qua nhiều cơ chế: cản trở quá trình làm tổ của phôi, gây huyết khối nhau thai làm suy giảm chức năng nhau, thậm chí một số kháng thể còn có thể đi qua nhau thai và ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển hệ dẫn truyền tim của thai nhi”.

Theo bà, tại phòng khám, những trường hợp có trải nghiệm tương tự bà Uông không hề hiếm. Bình thường, họ có thể không xuất hiện các triệu chứng điển hình của bệnh tự miễn như đau khớp, phát ban, khô miệng, khô mắt… Chỉ đến khi liên tục thất bại trong thai kỳ, các xét nghiệm chuyên sâu mới phát hiện bất thường về chỉ số miễn dịch. 

“Ngay cả khi phát hiện bất thường, người bệnh cũng không cần quá lo lắng. Với những phụ nữ có tiền sử thai sản xấu và ANA dương tính, y học hiện đại đã có các chiến lược đánh giá và xử trí tương đối hoàn chỉnh. Mục tiêu không phải là ép kháng thể chuyển sang âm tính hoàn toàn, mà là thông qua can thiệp khoa học để điều chỉnh trạng thái miễn dịch của cơ thể về mức cân bằng và ổn định, từ đó tối đa hóa khả năng mang thai thành công cũng như đảm bảo an toàn cho mẹ và bé”.

Xét nghiệm kháng thể kháng nhân không nằm trong danh mục khám tiền mang thai thông thường. Tuy nhiên, với những phụ nữ thuộc nhóm nguy cơ cao, việc sàng lọc có mục tiêu là cần thiết. 

Bác sĩ Chu Tuyết nhấn mạnh:

“Tiền sử thai sản không thuận lợi là chỉ định sàng lọc phổ biến và quan trọng nhất. Nếu từng bị sảy thai nhiều lần, thai lưu, thai chậm phát triển nghiêm trọng, sinh non không rõ nguyên nhân…, phụ nữ nên chủ động trao đổi với bác sĩ để được đánh giá xem có cần làm xét nghiệm miễn dịch hay không”.

Đối với những bệnh nhân đã được chẩn đoán mắc các bệnh tự miễn như lupus ban đỏ hệ thống, hội chứng Sjögren…, trước khi có kế hoạch mang thai cần được bác sĩ chuyên khoa thấp khớp – miễn dịch đánh giá và theo dõi toàn diện. 

Với những người chỉ có kháng thể dương tính nhưng chưa có triệu chứng lâm sàng, có thể bắt đầu can thiệp ngay từ giai đoạn chuẩn bị mang thai hoặc đầu thai kỳ; điều chỉnh lối sống là nền tảng. 

Trên cơ sở đó, bác sĩ sẽ cân nhắc sử dụng thuốc phù hợp nhằm tạo môi trường trong tử cung thuận lợi hơn cho phôi thai, giảm nguy cơ sảy thai và thai chậm phát triển. Riêng với những thai phụ có kháng thể đặc hiệu dương tính (đặc biệt là kháng thể SSA/Ro và SSB/La), từ giữa thai kỳ cần thực hiện siêu âm tim thai định kỳ. 

“Phần lớn bệnh nhân, sau khi được điều chỉnh trước mang thai và quản lý thai kỳ một cách bài bản, đều có thể sinh ra những em bé khỏe mạnh”, bác sĩ Chu Tuyết cho biết.

Nguồn: Sohu

Nguoi-noi-tieng.com (r) © 2008 - 2022