Sau 6 năm gọi vốn, CEO Coolmate Phạm Chí Nhu nhận thấy các quỹ đầu tư mạo hiểm - kênh cấp vốn chủ chốt của cộng đồng khởi nghiệp trong nước - đã "bớt mạo hiểm". Họ yêu cầu nhiều hơn về ứng dụng công nghệ mới và kinh doanh bền vững, ở khía cạnh tài chính (tức có lợi nhuận) lẫn thực hành ESG (môi trường, xã hội và quản trị).
Coolmate bắt đầu xây dựng báo cáo ESG và theo dõi các chỉ số bền vững. Là startup thời trang, họ đặt mục tiêu sử dụng 80% sợi tái chế (recycled polyester) trong danh mục sản phẩm vào cuối năm nay. Thực hành ESG bài bản và minh bạch quản trị, theo ông Nhu, là hai trong nhiều điểm cộng để startup này gọi 33 triệu USD từ các quỹ đầu tư mạo hiểm. Điều này cũng giúp họ dễ lọt vào mắt xanh của nhiều ngân hàng.
"Coolmate đang vay 3-4 nhà băng trong nước và một từ nước ngoài với lãi suất thấp hơn. Tiền vay ngân hàng hiện chiếm 30% dòng vốn của chúng tôi", ông Nhu nói.
Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng tiếp cận tín dụng ngân hàng thông suốt như Coolmate. Theo dữ liệu của FiinGroup, tỷ lệ doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận vốn tín dụng vẫn ở mức thấp, khoảng 9-10% trong giai đoạn 2020-2024. Hệ số đòn bẩy tài chính của nhóm này dao động quanh 0,35 lần, cho thấy mức độ sử dụng nợ khiêm tốn.

Ông Phạm Chí Nhu, CEO Coolmate, làm việc với nhà máy sản xuất về sản phẩm tất mới để bán trên Amazon. Ảnh: Coolmate
Theo Nghị quyết của Đại hội Đảng XIV, Việt Nam bước vào pha tăng trưởng mới với mục tiêu cải thiện GDP mỗi năm từ 10% trở lên. Bên cạnh động lực truyền thống (đầu tư, tiêu dùng nội địa, xuất khẩu), mô hình tăng trưởng mới sẽ dựa trên khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong đó, kinh tế xanh - số và tuần hoàn là trọng tâm của phương thức sản xuất mới.
Thị trường vốn với 7 cấu phần trở thành huyết mạch sống còn của kế hoạch này, trong đó tín dụng ngân hàng hiện chiếm tỷ trọng lớn nhất. Tiếp sau lần lượt là vốn đầu tư công, trái phiếu doanh nghiệp, đầu tư nước ngoài, vốn vay quốc tế, vốn cổ phần từ chứng khoán và mua bán - sáp nhập (M&A).
Vốn ngân hàng là một trong các mục tiêu tiếp cận của doanh nghiệp chế biến sợi từ lá dứa Ecosoi, bên cạnh quỹ đầu tư. Doanh nghiệp này mất 3 năm nghiên cứu để biến phụ phẩm nông nghiệp bỏ đi thành sợi bền vững cho ngành thời trang và có đơn hàng lớn từ 2023. Năm nay, họ dự tính cần khoảng 200.000 USD để tăng công suất gấp 2-3 lần so với năng lực xử lý 3.000 tấn lá dứa hiện tại.
Nhưng mọi chuyện không đơn giản. "Nhiều ngân hàng chúng tôi tìm hiểu yêu cầu tài sản đảm bảo hay tài sản cố định để thế chấp", bà Vũ Thị Liễu - nhà sáng lập kiêm CEO Ecosoi - nói. Theo bà, một doanh nghiệp đi từ đổi mới sáng tạo sẽ cần vốn ở nhiều giai đoạn, từ nghiên cứu và phát triển (R&D), tạo ra sản phẩm được thị trường chấp nhận đến mở rộng quy mô sản xuất.
Theo Chủ tịch FiinGroup Nguyễn Quang Thuân, thị trường vốn hiện lệ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng và đầu tư công. Năm ngoái, hai kênh này cấp khoảng 78 tỷ USD, chiếm phân nửa vốn cần có để đạt mục tiêu tăng trưởng. Tuy nhiên, năng lực cung ứng tín dụng trung và dài hạn khó có thể đáp ứng đủ nhu cầu theo quy mô và tốc độ tăng trưởng đề ra.
Tín dụng ngân hàng cũng gánh trên vai áp lực lớn. Theo báo cáo của FiinGroup, tổng dư nợ toàn hệ thống đến cuối năm ngoái khoảng 702 tỷ USD, đồng nghĩa tỷ lệ tín dụng trên GDP hiện ở mức cao với 146%. Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn cũng gần chạm trần 30% theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
"Điều này cho thấy hệ thống ngân hàng thương mại sẽ không đủ sức đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn cho đầu tư nói chung", báo cáo của FiinGroup viết.
FiinGroup ước tính 5 năm tới nhu cầu vốn đầu tư trung và dài hạn mỗi năm dao động 172-263 tỷ USD, trong khi tổng đầu tư toàn xã hội dự kiến 140-243 tỷ USD. Điều này tạo nên khoảng trống vốn dài hạn, đặc biệt cho các dự án của khu vực tư nhân và hạ tầng lớn của Chính phủ.
"Việt Nam cần đẩy mạnh cải cách thị trường vốn "quyết liệt và đồng bộ hơn bao giờ hết" nhằm hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững", ông Thuân nói.
Trong 7 kênh cấp vốn, đầu tư công được xác định đóng vai trò "vốn mồi", mang theo kỳ vọng tạo hiệu ứng lan tỏa sang các lĩnh vực khác. Còn FDI được định hướng ưu tiên chất lượng và hiệu quả thay vì mở rộng bằng mọi giá.
Nguồn lực mang tính chiến lược cần được kích hoạt, theo các chuyên gia, là vốn vay quốc tế. Ông Lê Xuân Quỳnh - Giám đốc điều hành Peterson Solutions Vietnam - nhận định đây là nguồn lực tiềm năng để hỗ trợ mô hình tăng trưởng kinh tế mới.
Theo ông, vốn vay quốc tế cho các dự án xanh có hai ưu thế là kỳ hạn dài, lãi suất thấp. Thông thường, các gói tín dụng xanh hoặc vay từ tổ chức nước ngoài kéo dài 5-8 năm. Đây là con số mà ít kênh cấp vốn phổ biến trong nước đáp ứng được. Lãi suất cạnh tranh, thậm chí thấp hơn 1-2 điểm phần trăm vay thương mại trong nước, chưa kể có thể thương lượng cố định trong cả kỳ vay.
Ngoài lợi thế về chi phí, nguồn vốn này còn là "bảo chứng thương hiệu" cho doanh nghiệp nhận, giúp họ cải thiện sức mạnh đàm phán và dễ huy động hơn cho các khoản tín dụng sau này. Hơn nữa, khác với ngân hàng thường chú trọng tài sản thế chấp, các quỹ đầu tư quốc tế quan tâm hơn đến năng lực thực hiện cam kết, kinh nghiệm triển khai và mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp trong quản lý rủi ro dự án.
"Doanh nghiệp cần tận dụng tốt hơn dòng vốn quốc tế, bởi nguồn lực này có chi phí vay thấp hơn, nhà đầu tư đa dạng với các kênh và công cụ tài chính khác nhau", ông Tim Evans, Tổng giám đốc HSBC Việt Nam, đồng quan điểm.
Ông Tim cho biết 20% khách hàng doanh nghiệp của HSBC đủ điều kiện và sẵn sàng tiếp cận vốn ngoại, và tỷ lệ này đang tăng nhanh. Họ là những tập đoàn lớn, doanh nghiệp tầm trung và có tên tuổi trong lĩnh vực kinh tế mới (xanh - số).
Thị trường vốn xanh, bền vững trong nước 5 năm qua chủ yếu ở giai đoạn chuẩn bị khuôn khổ chính sách, theo quan sát của ông Juhern Kim - Trưởng đại diện quốc gia của Viện Tăng trưởng xanh toàn cầu (GGGI) tại Việt Nam. Năm ngoái, danh mục phân loại xanh (Green Taxonomy) đã được ban hành, kèm theo cơ chế xác nhận với các dự án đủ điều kiện tiếp cận tín dụng và trái phiếu xanh.
Thực tế, thị trường bắt đầu dịch chuyển từ xây dựng khung chuẩn sang các thương vụ cụ thể. Ví dụ, Vietcombank đã xây dựng hai khung phát hành: trái phiếu xanh (2024) và trái phiếu bền vững (2025). Từ đây, họ thực hiện hai đợt phát hành trái phiếu trị giá 4.000 tỷ đồng. Techcombank cũng ban hành khung trái phiếu xanh đầu tiên cách đây hai năm.
Song rào cản lớn nhất khi doanh nghiệp tiếp cận vốn quốc tế (đặc biệt là vốn xanh, bền vững) là cơ chế vận hành và quy trình tiếp cận quá mới mẻ. Điều này được Giám đốc điều hành Peterson Solutions Vietnam đúc rút sau hơn chục năm tư vấn giải pháp bền vững cho doanh nghiệp.
Theo ông Quỳnh, các tổ chức quốc tế ưu tiên quản trị rủi ro ESG thay vì chỉ đối soát tính pháp lý. Họ đặc biệt lưu tâm đến đa dạng sinh học, sinh kế cộng đồng và lịch sử sử dụng đất tại dự án.
Ngược lại, doanh nghiệp nội mới dừng ở việc đáp ứng các thủ tục cơ bản như giấy phép môi trường, xả thải, chưa có tầm nhìn hệ thống về rủi ro bền vững. Dữ liệu thiếu đồng bộ khiến doanh nghiệp lúng túng khi chứng minh hiện trạng với bên cho vay.
FiinGroup ước tính vay mới nước ngoài của doanh nghiệp năm nay có thể đạt 5 tỷ USD, hỗ trợ bù đắp nghĩa vụ trả nợ và tái cấp vốn. Doanh nghiệp được kỳ vọng hưởng lợi từ chu kỳ giảm lãi suất của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) để thêm cơ hội tiếp cận dòng vốn này.
Tổng giám đốc HSBC Việt Nam khuyến nghị doanh nghiệp cần mức xếp hạng tín nhiệm tốt nếu muốn "đầu xuôi đuôi lọt", tránh việc phải trả mức lãi suất cao hơn bù trừ rủi ro. Việc lồng ghép các chỉ số bền vững vào báo cáo tài chính sẽ giúp các công ty Việt Nam không bị mất cơ hội trước những nhà đầu tư sành sỏi. Bên cạnh đó, đánh giá khách quan của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm như Moody’s, S&P và Fitch cũng đặc biệt quan trọng với đơn vị muốn huy động vốn từ thị trường quốc tế.
Phương Đông - Thủy Trương



































