Nội dung trên nằm trong nghị định 91 của Chính phủ, quy định chi tiết và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đại học.
Cụ thể, để được công nhận là "đại học", tỷ lệ giảng viên quốc tế (bao gồm cả giảng viên người Việt ở nước ngoài) tham gia giảng dạy trong 12 tháng ở các trường chiếm tối thiểu 5% tổng số giảng viên cơ hữu. Số có trình độ tiến sĩ đạt tối thiểu 60%.
Trước đó, Chính phủ không yêu cầu cụ thể tỷ lệ về đội ngũ giảng viên hay sinh viên quốc tế, người học sau đại học như trên.
Ngoài ra, về quy mô, các đại học phải có ít nhất 3 trường thành viên, 25 ngành ở mỗi trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ. Quy mô đào tạo đạt từ 15.000 người trở lên. Trong đó, tối thiểu 20% người học các chương trình sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ). Tỷ lệ sinh viên quốc tế đạt 3% trở lên.
Về nghiên cứu khoa học, tỷ lệ sản phẩm bình quân của một giảng viên cơ hữu trong một năm ít nhất là một bài báo khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus, hoặc sách xuất bản, bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích. Tỷ trọng thu từ các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt tối thiểu 20% tổng nguồn thu sự nghiệp của trường.
Các "trường đại học" phải duy trì liên tục điều này trong ít nhất 3 năm mới được lên "đại học".
Tiêu chí thành lập trường trực thuộc cũng khó hơn trước, khi phải có ít nhất 5 ngành đào tạo cùng lĩnh vực ở mỗi trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ. Quy mô người học từ 3.000 trở lên, thay vì 2.000 như cũ.
Ngoài ra, trường phải có nhóm nghiên cứu mạnh, bình quân mỗi giảng viên phải có một bài báo khoa học, tương tự điều kiện đối với đại học.
Chi tiết các tiêu chí để trường đại học chuyển thành đại học như sau:
| Tiêu chí | Quy định hiện nay (ban hành năm 2019) | Quy định mới |
|
Số trường trực thuộc |
Ít nhất 3 trường | Ít nhất 3 trường |
|
Quy mô người học |
15.000 | 15.000 |
| Ngành đào tạo tiến sĩ | 10 ngành |
25 ngành |
| Giảng viên trình độ tiến sĩ | Không quy định cụ thể |
Ít nhất 60% |
| Giảng viên quốc tế | Không quy định cụ thể |
Ít nhất 5% |
| Người học sau đại học | Không quy định cụ thể |
Ít nhất 20% |
| Số sinh viên quốc tế | Không quy định cụ thể |
Ít nhất 3% |
|
Bình quân số bài báo khoa học/sách xuất bản/bằng độc quyền sáng chế/giải pháp hữu ích của một giảng viên trong một năm |
Không quy định cụ thể | Ít nhất 1 |
|
Tỷ lệ thu từ hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo so với tổng thu |
Không quy định cụ thể |
Ít nhất 20% |
Theo Luật Giáo dục đại học, trường đại học và đại học là hai khái niệm khác nhau. Trường đại học, học viện là cơ sở đào tạo và nghiên cứu nhiều ngành. Còn đại học đào tạo, nghiên cứu nhiều lĩnh vực, gồm các trường đại học, khoa thành viên.
Cả nước hiện có 13 đại học, trong đó có 11 cơ sở công lập gồm: Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP HCM, Đại học Thái Nguyên, Huế, Đà Nẵng, Bách khoa Hà Nội, Kinh tế TP HCM, Kinh tế Quốc dân, Công nghiệp Hà Nội, Đại học Cần Thơ, Trà Vinh. Hai đại học tư thục là Duy Tân và Phenikaa.
Theo quy định mới, nhiều trường không đạt. Ví dụ, ở tiêu chí tỷ lệ giảng viên là tiến sĩ, Đại học Công nghiệp Hà Nội hay Kinh tế TP HCM mới chỉ đạt 35-45%, theo báo cáo thường niên của trường, trong khi Bộ yêu cầu tối thiểu là 60%.
Về tỷ trọng nguồn thu từ khoa học công nghệ, hầu hết thấp hơn nhiều so với mức 20%. Tại Đại học Bách khoa Hà Nội, nguồn thu này chỉ chiếm hơn 6,7% tổng thu (năm 2024), Kinh tế Quốc dân là hơn 3% (năm 2023).
Chính phủ yêu cầu các đại học hiện nay phải có kế hoạch, lộ trình đáp ứng các điều kiện mới trong thời hạn 5 năm, kể từ nay.

Một góc Đại học Bách khoa Hà Nội. Ảnh: Hoàng Giang
Dương Tâm




































