Theo Cục Di sản Văn hóa, di tích chùa Hương Trai (Dương Hòa, Hà Nội) được khởi dựng ít nhất từ nửa cuối thế kỷ 14. Qua thời gian và các đợt trùng tu, diện mạo chùa đã thay đổi nhưng vẫn bảo tồn được những dấu tích kiến trúc, mảng chạm khắc có niên đại sớm. Trong đó, tòa Thượng điện còn lưu giữ được bàn thờ Phật đến nay.

Hôm 3/2, Thủ tướng ký quyết định công nhận bàn thờ Phật bằng đá (hay bệ đá hoa sen chùa Hương Trai), có từ năm 1370, là một trong 30 bảo vật quốc gia mới. Hiện vật còn nguyên dáng, song cánh sen góc phải của đài sen bị vỡ mất mảnh, một số phiến đá nứt ngang, tầng đế cuối cùng bị che lấp một phần do quá trình tu bổ, nâng cốt nền tòa Thượng điện.

Hồ sơ của Cục Di sản Văn hóa nhận định bảo vật có hình thức, kỹ thuật tạo tác, hoa văn trang trí độc đáo. Bảo vật mang kích thước đồ sộ nhất trong bảy bàn thờ Phật có niên đại tuyệt đối ở nửa sau thế kỷ 14 tại các ngôi chùa Việt Nam. Có thể kể đến bàn thờ Phật chùa Đại Bi (năm 1374), cao 129 cm, dài mặt 266 cm, dài đế 261 cm, rộng mặt và rộng đến lần lượt là 118 cm, 134 cm. Hay bàn thờ Phật chùa Ngọc Đình (năm 1375), cao 136 cm, dài 276 cm, rộng 135 cm. Còn bàn thờ Phật chùa Hương Trai cao 112 cm, chiều dài mặt bệ và đế bệ lần lượt là 368 cm, 398 cm, chiều rộng mặt bệ 132 cm, đế bệ ghi nhận 159 cm.

Từ góc độ kỹ thuật tạo tác, hiện vật có kết cấu nhiều tầng, được lắp ghép từ các phiến đá xếp so le theo mạch hình chữ Công. Những phiến đá được liên kết bằng mộng thắt đuôi cá, tạo thành kết cấu uy nghi, vững chãi. Bề mặt được mài nhám, tạo tác hơi võng giữa theo hình cánh diều, bốn góc có xu hướng vươn nhẹ lên. Điều này phá vỡ bố cục vuông vức, thô cứng, mang nét mềm mại, khác biệt với hương án hoặc bàn thờ bằng đá hay các vật liệu gỗ, đất nung, đồng qua những triều đại lịch sử Việt Nam.

ban-tho-phat-bang-da-chua-huon-7217-6688-1774430871.jpg?w=680&h=0&q=100&dpr=1&fit=crop&s=NBbp5UbSWcy-IV7tiB3A-A

Mặt trước của bảo vật. Ảnh: Cục Di sản Văn hóa

Hoa văn trang trí của hiện vật che phủ cả ba mặt đứng, với các mô-típ như cánh sen kép, hình rồng trong ô chữ nhật, hoa cúc, dây xoắn, sóng nước. Những dải cánh sen bao quanh ba mặt, tạo thành một đài sen nở rộ, có ba lớp cánh kép được tạc nổi khối ở trên. Cánh to xen cánh nhỏ, ba tầng cánh ''mập mạp, khỏe khoắn, vững chắc''. Để làm mềm những cánh nổi khối, nghệ nhân khắc đường chỉ mềm mại, viền các mép, chạy từ chân tới đỉnh nhọn, uốn cong thành những đường xoắn kép, điểm giữa là bông hoa cách điệu.

Điểm nổi bật là bốn góc ở thân bảo vật có chạm nổi chim thần Garuda trong hình hài một cậu bé, vừa lực lưỡng, vừa mềm mại, đồng thời chứa đựng nội lực phi phàm. Chim được tạo tác trong tư thế ngồi bệt, đầu người nhưng có mắt lồi tròn, trán khắc chìm chữ Vương, biểu hiện quyền năng tối thượng của linh vật. Mỏ chim mập, ngắn, mũi sư tử, bụng phệ căng nở, bắp chân, tay phồng. Hai tay giơ lên cân xứng, các ngón quắp chặt để đỡ đài sen. Hai chân chống sang hai bên, đạp xuống dưới như đang chịu sức nặng ép xuống. Cổ tay và chân đeo vòng, đôi cánh dang hai bên dưới dạng chạm chìm ép vào hai mặt bàn thờ.

Mặt sau hiện vật không có hoa văn, phần lớn được khắc minh văn, có phần nguệch ngoạc, một số chữ đã mờ, không còn đọc được. Nội dung minh văn ghi tên những người công đức tiền, ruộng cho chùa vào năm Đại Trị 3 (1360) và niên đại tạo dựng bàn thờ Phật, năm Đại Định 2 (1370).

ban-tho-phat-bang-da-chua-huon-7990-8776-1774430871.jpg?w=680&h=0&q=100&dpr=1&fit=crop&s=eOTGEpzygZ70myCtBnu-3Q

Mặt sau của bàn thờ Phật bằng đá chùa Hương Trai. Ảnh: Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội

Theo những nhà nghiên cứu, hoa văn trên các mảng chạm khắc ở bàn thờ Phật bằng đá cuối thế kỷ 14 nói chung, bàn thờ Phật chùa Hương Trai nói riêng không tỉ mỉ, uyển chuyển như thời Lý mà luôn cho thấy ''những khối hình căng tròn, mập mạp, dung dị, thoáng đãng như được chắt lọc ở mức độ cao nhất''. Những hoa văn che phủ ba bề mặt đã xóa đi cảm giác nặng nề của tổng thể bàn thờ Phật.

Ngoài ra, minh văn ở mặt sau cho phép xác định niên đại tuyệt đối, hàm chứa nhiều thông tin lịch sử, văn hóa. Nội dung này bổ sung cho chính sử và dã sử, nhất là trong việc tìm hiểu về tổ chức bộ máy hành chính, quan chế, địa danh, dòng họ, chế độ ruộng đất, Phật giáo thời Trần.

Hồ sơ của Cục Di sản Văn hóa đánh giá đây là ''cổ vật hiếm hoi, đếm trên đầu ngón tay'', gắn liền lịch sử Phật giáo Đại Việt thời Trần, như một hằng số bất biến, tồn tại cùng di tích chùa Hương Trai từ nửa cuối thế kỷ 14 đến nay. Bảo vật cũng bổ sung tư liệu cho nghiên cứu lịch sử, làm cột mốc để nhận diện sự chuyển biến phong cách qua các triều đại.

Phương Linh

Nguoi-noi-tieng.com (r) © 2008 - 2022