
Một số nhóm cá tiềm ẩn nguy cơ tích lũy kim loại nặng, ký sinh trùng hoặc chất gây hại nếu chế biến, bảo quản không đúng cách.
Dưới đây là 6 nhóm cá được khuyến nghị nên thận trọng.

Cá lớn ăn thịt ở tầng cao của chuỗi thức ăn
Những loài cá kích thước lớn như cá kiếm, cá mập, cá ngừ đại dương có thể tích lũy thủy ngân và các kim loại nặng khác qua nhiều năm sinh trưởng. Do nằm ở đỉnh chuỗi thức ăn, chúng hấp thu độc chất từ những sinh vật nhỏ hơn. Phụ nữ mang thai, trẻ em và người có bệnh nền nên đặc biệt hạn chế nhóm cá này.
Cá có màu sắc sặc sỡ

SỐC: Phát hiện 14 mẫu "inox 304" giả trên sàn thương mại điện tử, cảnh báo rủi ro người dùng bị thôi nhiễm kim loại nặngĐỌC NGAY
Một số loài cá rạn san hô có màu sắc bắt mắt có thể chứa độc tố tự nhiên như ciguatoxin, còn gọi là độc tố gây ngộ độc cá rạn. Loại độc tố này bền với nhiệt, không bị phá hủy khi nấu chín. Người ăn phải có thể buồn nôn, tiêu chảy, tê bì tay chân, nặng hơn có thể ảnh hưởng thần kinh và hô hấp.
Cá ăn sống hoặc làm sashimi không đảm bảo
Cá nước ngọt như cá diếc, cá mè, cá trắm có thể mang sán lá gan, sán dây và nhiều ký sinh trùng lây sang người. Ăn sống hoặc tái dễ khiến ấu trùng xâm nhập cơ thể, gây tổn thương gan mật và hệ tiêu hóa.
Ngay cả một số cá biển từng sống ở vùng nước lợ hoặc cửa sông cũng có nguy cơ mang ấu trùng giun Anisakis và các loại sán. Ngoài ký sinh trùng, cá sống còn có thể chứa vi khuẩn như Vibrio parahaemolyticus, Salmonella hay virus viêm gan A, Norovirus.
Khuyến cáo chung là nên ăn cá đã nấu chín kỹ. Nếu muốn ăn sống, nên chọn cá biển đánh bắt xa bờ và được cấp đông sâu ở âm 20 độ C trong khoảng một tuần để giảm nguy cơ ký sinh trùng.
Cá chiên rán quá kỹ ở nhiệt độ cao
Cá giàu axit béo không bão hòa có lợi cho tim mạch. Tuy nhiên, khi chiên rán ở nhiệt độ cao, các axit béo này dễ bị oxy hóa, tạo ra sản phẩm oxy hóa lipid, amin dị vòng và hydrocarbon thơm đa vòng. Một số chất trong nhóm này được ghi nhận có khả năng gây đột biến và làm tăng nguy cơ ung thư nếu tiêu thụ thường xuyên.
Ngoài ra, chiên ngập dầu còn làm tăng lượng chất béo tổng thể của món ăn, không có lợi cho kiểm soát mỡ máu.
Cá khô có mùi ôi
Cá khô chứa nhiều axit béo không bão hòa nên dễ bị oxy hóa, sinh mùi hôi dầu. Khi ăn phải cá đã biến chất, người dùng có thể buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy. Về lâu dài, thực phẩm ôi thiu có thể gây hại hệ tiêu hóa.
Khi chọn mua, nên ưu tiên cá khô có màu vàng trắng tự nhiên, bề mặt khô ráo, thớ thịt rõ, không có mùi lạ.
Cá muối kém chất lượng
Cá muối thường có hàm lượng muối cao và có thể chứa nitrit. Nếu quá trình ướp muối không đảm bảo vệ sinh hoặc lên men không đúng cách, hàm lượng nitrit có thể tăng cao, về lâu dài làm tăng nguy cơ ung thư đường tiêu hóa.
Cá muối đạt chất lượng thường có bề mặt bóng nhẹ, mùi thơm đặc trưng của cá lên men tự nhiên. Ngược lại, cá bị sẫm màu, mùi hắc khó chịu nên tránh sử dụng.
Cá vẫn là thực phẩm tốt nếu lựa chọn đúng loại và chế biến hợp lý. Ưu tiên cá tươi, nguồn gốc rõ ràng, nấu chín kỹ và hạn chế chiên rán nhiều dầu là cách giúp tận dụng lợi ích dinh dưỡng mà vẫn giảm thiểu rủi ro cho sức khỏe.
Nguồn và ảnh: QQ



































