Ruộng bậc thang xuất hiện ở các vùng núi trên khắp thế giới, nơi con người cải tạo các sườn dốc thành những bậc phẳng để trồng trọt. Nghiên cứu của Giáo sư Nhân chủng học Stephen Acabado tại Đại học California, Los Angeles (Mỹ) chỉ ra hình thức canh tác này là một giải pháp nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu.
Bởi ruộng bậc thang có khả năng làm chậm dòng chảy của nước mà không chặn hoàn toàn, giúp giảm xói mòn, giữ đất tại chỗ và duy trì độ ẩm cần thiết để cây trồng sinh trưởng. Các nghiên cứu của ông được tiến hành thực địa tại nhiều nơi như Philippines và Morocco.

Ruộng bậc thang ở Quảng Ngãi. Ảnh: Duy Sinh
Ở Philippines, ông đã có gần hai thập kỷ tìm hiểu hệ thống ruộng bậc thang trồng lúa Ifugao ở vùng Cordillera thuộc miền bắc nước này. Các bằng chứng cho thấy chúng phần lớn được hình thành vào khoảng thế kỷ 17, khi các cộng đồng vùng cao cải tạo địa hình và đưa canh tác lúa lên cao hơn.
Vùng Cordillera có đặc điểm lượng mưa biến động lớn. Ở một số thung lũng, lượng mưa hàng năm vượt 2.000 mm, nơi cao hơn có thể gần 4.000 mm. Ở cả hai môi trường, mưa thường diễn ra ngắn nhưng dữ dội. Nếu không can thiệp, nước sẽ tràn xuống các sườn dốc đứng thành dòng xiết và cuốn trôi đất.
Nhờ có ruộng bậc thang, nước mưa được giữ ở từng bậc và thấm dần, giúp ngăn xói mòn. So với mặt bằng đất dốc không cải tạo lân cận, ruộng bậc thang giữ ẩm đáng kể, thường cao hơn 15-30% và thậm chí hơn trong vài trường hợp. Lượng ẩm bổ sung giúp cây trồng chịu được những đợt khô hạn ngắn giữa các cơn mưa.
Thích ứng với khí hậu của ruộng bậc thang còn ở cách lựa chọn cây trồng. Nông dân Ifugao duy trì nhiều giống lúa phù hợp với các môi trường cụ thể khác nhau. Phổ biến có nhóm giống truyền thống địa phương được gọi chung là Tinawon.
Từng giống Tinawon cụ thể có khả năng thích nghi với những độ cao, nhiệt độ và điều kiện độ ẩm khác nhau. Ví dụ, có loại phát triển tốt ở khu vực mát và ẩm, trong khi số khác chịu được đất nông hoặc khô hạn ngắn.
"Bằng cách gieo trồng các giống lúa địa phương khác nhau trên các thửa ruộng bậc thang phù hợp điều kiện cụ thể, nông dân phân tán rủi ro thay vì phụ thuộc vào một chiến lược canh tác duy nhất", Giáo sư Stephen Acabado nhận định.
Ngoài ra, nông dân Ifugao có thể "đọc" những tín hiệu môi trường tinh tế. Quan sát mạch nước chảy chậm hơn bình thường vào cuối mùa đông hay hoạt động của giun đất gia tăng trước mùa mưa, họ sẽ biết khi nào cần điều chỉnh ruộng, như gia cố bờ tường, nạo vét kênh dẫn hay cống.
Kinh nghiệm truyền đời cũng giúp họ biết khi nào cần thay đổi thời điểm gieo trồng để thích ứng với mưa đến muộn hoặc mùa mưa ngắn hơn. "Qua nhiều thế hệ, các cách thích ứng này đã giúp nông dân tiếp tục trồng trọt ngay cả trong những giai đoạn khó khăn vì lũ lụt hay hạn hán", ông Stephen chỉ ra.
Dù vậy, ruộng bậc thang đang đứng trước thách thức tồn tại. Khi lực lượng lao động suy giảm do thế hệ trẻ rời bỏ nông thôn và người dân tìm kiếm sinh kế phi nông nghiệp, mô hình canh tác này gặp khó trong việc duy trì.
Một nghiên cứu khác của Giáo sư Stephen Acabado cùng Đại học Quốc tế Rabat (Morocco) cho thấy nhiều ruộng bậc thang được canh tác liên tục từ cuối thế kỷ 16 -17 ở dãy Anti-Atlas, do vùng này tập trung những trận mưa lớn không đều và hạn hán xen kẽ thường xuyên.
Nhưng đến thế kỷ 20, làn sóng di cư làm suy giảm lực lượng lao động địa phương cần thiết cho việc bảo dưỡng ruộng bậc thang, khiến chúng dần bị bỏ hoang.
Hay tại vùng Cordillera của Philippines, thách thức khí hậu đan xen với áp lực kinh tế cũng đe dọa sự tồn tại của ruộng bậc thang. Các siêu bão vào năm 2018 và 2022 khiến chúng hư hại đáng kể nhưng lực lượng lao động suy giảm và nền kinh tế hiện đại hóa khiến nguồn lực sửa chữa hạn chế. Theo giáo sư Stephen, chính phủ cần tăng hỗ trợ để khuyến khích nông dân duy trì hệ thống canh tác này.
Phiên An (theo The Conversation)




































