Tại họp báo tháng 4 của Bộ Khoa học và Công nghệ tuần này, ông Hoàng Anh Tú cho biết, Bộ Khoa học và Công nghệ được giao chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, đặc biệt là các bộ liên quan đến công nghiệp, dịch vụ và những lĩnh vực thiết yếu để nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung danh mục công nghệ chiến lược.
Danh mục trước đó, ban hành theo Quyết định 1131 vào tháng 6/2025, đã xác định 11 nhóm công nghệ và 35 sản phẩm chiến lược, bao phủ các lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ mới nổi có tầm ảnh hưởng lớn đến kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng.
Theo đại diện Bộ, mục tiêu của danh mục sửa đổi tập trung vào tăng trưởng GDP, cụ thể là tăng trưởng kinh tế "hai con số", tăng năng suất và chất lượng. Do đó, phải chọn được những công nghệ và sản phẩm "thực sự chiến lược", sản phẩm Việt Nam cần và có khả năng làm được.

Phó vụ trưởng Khoa học kỹ thuật và công nghệ Hoàng Anh Tú, tại họp báo thường kỳ Bộ Khoa học và Công nghệ. Ảnh: Trọng Đạt
Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp với các đơn vị liên quan để đưa ra cách tiếp cận mới, nhằm xác định các sản phẩm công nghệ thực sự tác động đến tăng trưởng kinh tế. Thay vì đi từ công nghệ, cơ quan quản lý bắt đầu từ các "bài toán lớn", tức những vấn đề cấp bách của từng ngành, từng lĩnh vực mà nếu giải quyết được sẽ tạo ra tác động rõ ràng và có thể đo lường.
Từ những bài toán này, các cơ quan tiếp tục xác định chỉ tiêu tác động, tức những thước đo cụ thể để đánh giá hiệu quả, sau đó phân tích chuỗi giá trị của từng ngành để tìm ra khâu quan trọng nhất. Khâu nào tạo ra giá trị lớn sẽ được ưu tiên, từ đó bóc tách sản phẩm công nghệ và công nghệ lõi cần đầu tư.
Theo ông Tú, có thể hiểu đơn giản là trước hết phải xác định đúng vấn đề cần giải, sau đó tìm đúng khâu tạo ra giá trị, rồi mới chọn ra công nghệ phù hợp. Cách này được áp dụng khi xem xét những ngành có đóng góp lớn cho GDP như dệt may, da giày, nông - lâm - thủy sản hay chế biến gỗ. Thay vì dàn trải, cơ quan quản lý nhìn vào từng khâu trong chuỗi giá trị, từ nguyên liệu, sản xuất đến hoàn thiện sản phẩm, để xác định nên tập trung vào đâu.
Ví dụ, với dệt may và da giày, chuỗi giá trị trải dài từ nguyên liệu đến gia công, hoàn thiện. Việt Nam cần xác định khâu nào có thể làm chủ ngay để tạo hiệu quả nhanh, và khâu nào cần thời gian nghiên cứu, tích lũy năng lực.

Một buổi thử nghiệm dùng UAV chữa cháy của CT UAV tại TP HCM. Ảnh: Trọng Đạt
Theo ông Tú, công nghệ không thể làm chủ trong thời gian ngắn. Nhiều bí quyết vẫn do doanh nghiệp nước ngoài nắm giữ, nên phải có lộ trình phù hợp. Vì vậy, danh mục công nghệ chiến lược cũng được tính toán theo hai nhóm: nhóm có thể làm chủ sớm, tạo tác động nhanh; và nhóm công nghệ nền tảng cần đầu tư dài hạn.
Quá trình xây dựng danh mục công nghệ mới có sự tham gia của nhiều bộ, ngành. Các đề xuất sau đó được Bộ Khoa học và Công nghệ tổng hợp, báo cáo Ban chỉ đạo Trung ương và Chính phủ để điều chỉnh danh mục hiện hành.
Thời gian qua, năng lực làm chủ công nghệ trong nước có nhiều chuyển biến. Theo báo cáo tại cuộc họp Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 cuối tháng 3, một số doanh nghiệp Việt Nam đã bước đầu làm chủ công nghệ lõi và phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược.
Trong lĩnh vực AI camera, doanh nghiệp trong nước đã làm chủ khoảng 65% công nghệ lõi, với tỷ lệ nội địa hóa trên 50%. Ở mảng 5G, có đơn vị làm chủ 85% công nghệ lõi, sẵn sàng thương mại hóa. Tương tự, với UAV, một số doanh nghiệp được ghi nhận làm chủ trên 70%. Trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, nhiều đơn vị phát triển các mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt dựa trên nền tảng mở.
Trọng Đạt
- Xây danh mục công nghệ chiến lược từ 'bài toán lớn'
- Doanh nghiệp Việt bước đầu làm chủ công nghệ lõi
- Việt Nam muốn làm chủ công nghệ lò phản ứng hạt nhân module nhỏ




































