Ngày 2/3, Iran tuyên bố đóng cửa hoạt động hàng hải qua eo biển Hormuz - tuyến vận tải chiến lược với dầu, khí toàn cầu. Bộ Chỉ huy Trung tâm Mỹ (CENTCOM) sau đó khẳng định eo biển này chưa bị đóng, bất chấp các tuyên bố từ giới chức Iran.

Dù vậy, hàng trăm tàu vẫn đang mắc kẹt tại đây, do lo ngại bị tấn công hoặc không có bảo hiểm.

Eo biển Hormuz nằm giữa Oman và Iran, nối vịnh Ba Tư ở phía bắc, vịnh Oman ở phía nam và xa hơn là biển Arab. Năm ngoái, hơn 14 triệu thùng dầu thô mỗi ngày chảy qua eo biển này, tương đương một phần ba tổng xuất khẩu nhiên liệu bằng đường biển của thế giới, theo dữ liệu từ Kpler.

Vì vậy, việc phong tỏa kéo dài có thể khiến giá dầu thô thế giới tiếp tục tăng mạnh. Giá dầu thô thế giới đã tăng gần 15% trong 6 ngày qua. Chỉ riêng phiên 3/3, dầu Brent đắt thêm 4,7% lên 81 USD một thùng - mức cao nhất kể từ tháng 1/2025. Nhiều nhà phân tích cảnh báo xung đột tại Trung Đông lan rộng sẽ kéo giá Brent lên trên 100 USD.

hormuz-4618-1728361193-1768274-6509-9085-1772610646.jpg?w=680&h=0&q=100&dpr=1&fit=crop&s=C4__-ej826W3cwnKOpQDeQ

Vị trí eo biển Hormuz và các quốc gia xung quanh. Đồ họa: NASA

Hiện tại, khoảng 20% lượng khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) xuất khẩu của thế giới đang bị đe dọa. Sản phẩm này chủ yếu đến từ Qatar, được vận chuyển qua eo biển Hormuz. Tuy nhiên, ngày 2/3, gã khổng lồ khí đốt QatarEnergy cho biết ngừng sản xuất LNG sau khi nhiều cơ sở bị thiết bị bay không người lái của Iran tấn công.

Trong báo cáo phân tích ngày 2/3, hãng nghiên cứu Nomura nhận định ở châu Á, Thái Lan, Ấn Độ, Hàn Quốc và Philippines là những nước dễ tổn thương nhất trước giá dầu cao do phụ thuộc nhập khẩu. Trong khi đó, Malaysia có thể hưởng lợi tương đối vì là nước xuất khẩu năng lượng.

Theo giới phân tích, dưới đây là tác động của xung đột Trung Đông với các quốc gia phụ thuộc năng lượng từ Vùng Vịnh và việc vận chuyển hàng qua eo biển Hormuz.

Nam Á: chịu ảnh hưởng tức thì

Các quốc gia khu vực Nam Á sẽ đối mặt với sự gián đoạn sớm nhất, đặc biệt liên quan đến nguồn cung LNG. Qatar và UAE hiện cung cấp tới 99% lượng LNG nhập khẩu của Pakistan, 72% của Bangladesh và 53% của Ấn Độ, theo hãng dữ liệu Kpler.

image-2-1772610141-4010-1772610646.jpg?w=680&h=0&q=100&dpr=1&fit=crop&s=Mnd9jHPmtsBfYQNM3WS0Gw

Lượng dầu thô và khí ngưng tụ vận chuyển qua Eo biển Hormuz mỗi ngày, đơn vị: triệu thùng/ngày. Đồ thị: EIA, CNBC

Ấn Độ chịu tác động lớn nhất trong khu vực này. Khoảng 60% dầu nhập khẩu của quốc gia Nam Á này đến từ Trung Đông, theo ngân hàng UBP - ngân hàng tư nhân và quản lý tài sản hàng đầu tại Thụy Sĩ. Hơn một nửa LNG nhập khẩu của nước này cũng liên quan đến Vùng Vịnh, chủ yếu dùng giá Brent làm tham chiếu. "Vì vậy, nếu giá dầu tăng do ách tắc tại Hormuz, chi phí nhập khẩu dầu và LNG sẽ cùng tăng. Đây sẽ là cú sốc tài chính với họ", Go Katayama, chuyên gia phân tích cấp cao của Kpler, cho biết.

Tuy nhiên, với kho dự trữ hạn chế và khả năng linh hoạt trong mua hàng thấp, Pakistan và Bangladesh cũng đặc biệt dễ tổn thương. "Việc này đồng nghĩa khi nguồn cung thiếu hụt, họ buộc phải nhanh chóng cắt giảm nhu cầu năng lượng thay vì đẩy mạnh mua trên thị trường giao ngay", Katayama nói.

Trung Quốc: chịu tác động lớn nhưng có bộ đệm

Việc đóng cửa Hormuz sẽ là phép thử với an ninh năng lượng của Trung Quốc. Tuy nhiên, lượng dự trữ lớn và nguồn cung thay thế sẽ xoa dịu tác động từ việc này.

Trung Quốc hiện là nước nhập khẩu dầu thô lớn nhất thế giới. Họ mua hơn 80% lượng dầu xuất khẩu của Iran, theo Kpler. Trong khi đó, khoảng 30% LNG nhập khẩu của nước này đến từ Qatar và UAE. Khoảng 40% dầu nhập khẩu đi qua Hormuz, theo ước tính của UBP.

"Trung Quốc chịu tác động đáng kể nhưng linh hoạt hơn", Katayama nhận xét.

Tính đến cuối tháng 2, tồn kho LNG của Trung Quốc đạt 7,6 triệu tấn, đủ hỗ trợ ngắn hạn. Tuy nhiên, nếu gián đoạn kéo dài, Trung Quốc sẽ phải mua hàng từ các nơi khác. Khi đó, cạnh tranh giá tại châu Á có thể tăng ngay cả khi Bắc Kinh chưa thiếu nhiên liệu.

Trong một báo cáo ngày 1/3, hãng tư vấn năng lượng Rystad Energy cho biết Saudi Arabia đã tăng xuất khẩu dầu trong những tuần gần đây. Dự trữ dầu chiến lược của các nước tiêu thụ lớn như Trung Quốc vì thế có thể giúp giảm bớt cú sốc tạm thời cho thị trường.

Nhật Bản và Hàn Quốc

ship-in-hormuz-1772610512-5401-1772610646.jpg?w=680&h=0&q=100&dpr=1&fit=crop&s=dNBFrjV2J2bAUt2TVJ_b7g

Tàu tại Eo biển Hormuz ngày 2/3/2026. Ảnh: Reuters

Trung Đông hiện cung cấp 75% lượng dầu nhập khẩu của Nhật Bản và khoảng 70% của Hàn Quốc, theo UBP. Về LNG, mức độ phụ thuộc vào Vùng Vịnh của hai nước này thấp hơn các nước Nam Á. Hàn Quốc nhập 14% LNG từ Qatar và UAE, trong khi Nhật Bản nhập 6%, theo ước tính của Kpler.

Tuy nhiên, ngay cả khi không thiếu hụt ngay lập tức, tác động về giá vẫn có thể nghiêm trọng. "Các nền kinh tế phụ thuộc lớn vào nhập khẩu năng lượng như Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan dễ chịu tác động từ cú sốc nguồn cung hơn", Shier Lee Lim - chiến lược gia khu vực châu Á - Thái Bình Dương tại nền tảng thanh toán Convera cho biết.

Tồn kho của các nước này cũng hạn chế. Kpler cho biết Hàn Quốc hiện chỉ dự trữ khoảng 3,5 triệu tấn LNG và Nhật Bản khoảng 4,4 triệu tấn, đủ đáp ứng khoảng 2-4 tuần nếu nhu cầu ổn định.

Đông Nam Á

Tại phần lớn các nước Đông Nam Á, giới chuyên gia cho rằng tác động đầu tiên là lạm phát chi phí thay vì thiếu hụt tức thì. Người mua LNG giao ngay sẽ đối mặt chi phí thay thế tăng mạnh khi châu Á phải cạnh tranh với châu Âu để giành nguồn hàng từ Đại Tây Dương, Katayama cho biết.

Trong đánh giá của Nomura, Thái Lan chịu thiệt hại đáng kể do tỷ lệ nhập khẩu dầu ròng trên GDP lớn nhất châu Á, với 4,7% GDP. Nghiên cứu chỉ ra mỗi khi giá dầu tăng 10%, cán cân vãng lai của nước này sẽ giảm khoảng 0,5 điểm phần trăm GDP.

Hà Thu (theo Reuters, CNBC)

Nguoi-noi-tieng.com (r) © 2008 - 2022