Hôm 28/4, thị trường thế giới bất ngờ trước thông báo của Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) về việc sẽ rời Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) từ ngày 1/5.
Bộ trưởng Năng lượng Suhail Al Mazrouei cho biết quyết định đưa ra sau quá trình rà soát toàn diện chính sách sản xuất cũng như năng lực hiện tại và tương lai của đất nước, giúp UAE linh hoạt hơn trong ứng phó với biến động thị trường.
Các nguồn tin và giới phân tích cho biết, quyết định của UAE đã được cân nhắc trong thời gian dài, sau nhiều khác biệt về đường hướng của OPEC và quan hệ kinh tế, chính trị với các nước thành viên trong liên minh này.
Ông William F. Wechsler, Giám đốc cấp cao phụ trách các chương trình Trung Đông tại Atlantic Council (Wasington DC, Mỹ) kể lại hôm 28/4, một quan chức cấp cao Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) đã bình luận với ông về động thái rằng: "Đó là điều được chờ đợi từ lâu".

Bộ trưởng Năng lượng Suhail Al Mazrouei tại họp báo sau hội nghị các bộ trưởng của OPEC tại Vienna, Austria ngày 7/12/2018. Ảnh: AFP
Chuyên gia cho biết ý định rời OPEC đã được thảo luận kín nhiều năm, cả trong nội bộ UAE cũng như giữa các quan chức UAE và Mỹ. Ông William từng là Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng phụ trách các hoạt động đặc biệt và chống khủng bố.
"Từ góc nhìn của Abu Dhabi, lợi ích quốc gia của họ đã khác biệt và có khả năng ngày càng xung đột với các thành viên khác của OPEC và OPEC+, trong đó đáng chú ý có Nga", ông bình luận.
Ông Kristian Coates Ulrichsen, nghiên cứu viên về Trung Đông tại Viện Baker, Đại học Rice (Texas, Mỹ) nhận định UAE đã phát tín hiệu về khả năng rời OPEC ít nhất 5 năm trước, khi bày tỏ quan điểm khác biệt Arab Saudi về cách điều hành chính sách dầu mỏ trước thềm hội nghị OPEC+ vào tháng 11/2020.
Rạn nứt trở nên rõ ràng tại cuộc họp của OPEC+ vào tháng 7/2021. Trong cả hai dịp, UAE muốn tăng sản lượng dầu - vốn đã bị OPEC cắt giảm mạnh trong đại dịch, nhưng Arab Saudi lại muốn giữ sản lượng thấp để neo giá cao.
Theo chuyên gia, một phần nguyên nhân nằm ở hoàn cảnh kinh tế khác nhau của hai nước. Arab Saudi phụ thuộc vào giá dầu cao để tạo nguồn thu ngân sách lớn phục vụ các dự án hạ tầng khổng lồ như chương trình Vision 2030. Trong khi, nền kinh tế UAE đa dạng hơn và ít phụ thuộc trực tiếp vào doanh thu dầu mỏ.
"Ở góc độ kinh tế, tăng trưởng của các quỹ đầu tư nhà nước UAE trong những năm gần đây phụ thuộc vào diễn biến kinh tế toàn cầu nhiều hơn là với giá dầu", ông William F. Wechsler, nêu ví dụ. Do đó, một số thành viên OPEC ưu tiên giá dầu cao còn UAE quan tâm nhiều hơn đến các rủi ro đối với kinh tế toàn cầu, vốn là yếu tố ảnh hưởng lợi nhuận đầu tư của họ.

Sản lượng dầu và sản phẩm liên quan của các thành viên OPEC (triệu thùng/ngày). Đồ họa: AP
Về dài hạn, UAE muốn khai thác tối đa trữ lượng dầu mỏ trước khi nhu cầu đạt đỉnh và bắt đầu suy giảm do quá trình chuyển đổi sang năng lượng tái tạo. Những năm gần đây, Abu Dhabi tung ra gói đầu tư đến 150 tỷ USD, bao gồm mục tiêu mở rộng công suất sản xuất dầu từ mức 3,4 triệu thùng lên 5 triệu thùng mỗi ngày vào năm 2027 và có thể cao hơn sau đó.
"Điều này phản ánh mong muốn khai thác tối đa trữ lượng và đưa dầu ra thị trường, tránh nguy cơ tài sản bị 'mắc kẹt' nếu nhu cầu toàn cầu giảm trong quá trình chuyển dịch khỏi nhiên liệu hóa thạch", ông Kristian Coates Ulrichsen, nêu.
Nếu vẫn ở trong OPEC, UAE không thể tùy ý sản xuất thêm. Họ đang bị áp hạn hạch 3,2 triệu thùng mỗi ngày. "Trong nhiều năm, Abu Dhabi đã tìm cách thu lợi từ khoản đầu tư vào việc mở rộng năng lực sản xuất", Helima Croft, chuyên gia tại RBC Capital Markets, cho biết.
Theo ông Jorge Leon, Trưởng bộ phận phân tích địa chính trị của Rystad Energy, khi nhu cầu dầu đang tiến gần đến đỉnh, bài toán của các nhà sản xuất đang thay đổi rất nhanh. "Và việc chờ đến lượt trong một hệ thống hạn ngạch giống như bỏ lỡ cơ hội kiếm tiền", ông nói.
Ngoài ra, độc lập chính sách có thể mang lại lợi ích gián tiếp cho quan hệ với các đối tác quan trọng của UAE như Trung Quốc, ngay cả khi có nguy cơ làm giảm giá dầu toàn cầu ở mức độ nào đó. "Với nhu cầu kinh tế ngắn hạn, triển vọng tối đa hóa doanh thu năng lượng của UAE rõ ràng rất hấp dẫn", ông William nói.
Ngoài động lực kinh tế, quan hệ địa chính trị ở Vùng Vịnh cũng khiến UAE không còn mặn mà với OPEC. Dù vẫn đầu tư lớn vào nhau, khác biệt giữa UAE và nhà lãnh đạo OPEC là Arab Saudi ngày càng lớn.
Hai quốc gia từng hợp tác chống lại lực lượng phiến quân Houthi ở Yemen năm 2015. Nhưng liên minh đã rạn nứt và chuyển sang đổ lỗi nhau vào cuối tháng 12/2025, khi Arab Saudi ném bom một lô hàng mà họ cho là vũ khí vận chuyển tới Hội đồng Chuyển tiếp Miền Nam tại Yemen (STC) do UAE hậu thuẫn. Sự việc dẫn đến tranh cãi công khai, lan sang cả các chính sách khác biệt về Sudan.
Rạn nứt vẫn chưa được giải quyết thì xung đột Trung Đông nổ ra. Lần này, Iran nhắm mục tiêu vào UAE nhiều hơn bất kỳ nước nào khác, kể cả Israel. Abu Dhabi chỉ trích phản ứng "yếu kém" của các đối tác vùng Vịnh. Và việc Iran - thành viên OPEC - chặn các tàu dầu qua eo biển Hormuz và yêu cầu thu phí đã dập tắt những luyến tiếc ở lại OPEC của UAE.
Ông Kristian Coates Ulrichsen đánh giá các phát biểu của những nhân vật có ảnh hưởng tại UAE cho thấy giới chức nước này theo dõi sát sao quốc gia nào đã hỗ trợ họ trong thời điểm khủng hoảng và quốc gia nào thì không.
"Quyết định rời OPEC phản ánh tính toán của Abu Dhabi rằng việc tiếp tục ở lại một tổ chức do Saudi chi phối không còn mang lại lợi ích", ông nói. Thậm chí, chuyên gia này dự báo UAE có khả năng xem xét lại các tư cách thành viên trong Liên đoàn Arab, Tổ chức Hợp tác Hồi giáo hay cả Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh, khi các nước Trung Đông chuẩn bị cho một bối cảnh hậu chiến đầy bất định.
Ông William F. Wechsler dự báo UAE có khả năng sẽ củng cố hơn nữa mối quan hệ với Mỹ sau thời điểm 1/5. Nhưng trớ trêu, theo thời gian, động thái này cũng có thể củng cố quan hệ Mỹ-Arab Saudi, vì Riyadh sẽ gánh vác trách nhiệm lớn hơn trong việc ổn định giá dầu toàn cầu tại OPEC.
Phiên An (theo Reuters, The Conversation, Atlantic Council, Al Jazeera)




































