Hôm 8/4, Quốc hội phê chuẩn ông Ngô Văn Tuấn giữ chức Bộ trưởng Tài chính nhiệm kỳ 2026-2030. Ông Tuấn nhận nhiệm vụ khi Việt Nam đang ở bước ngoặt với mục tiêu đột phá, duy trì tăng trưởng trên 10% mỗi năm trong 5 năm tới để trở thành nước phát triển vào 2045.
"Mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao đặt ra yêu cầu rất lớn với ngành tài chính", ông Tuấn nói khi nhậm chức và cho rằng bối cảnh hiện nay, ngoài quản lý thu - chi, Bộ còn giữ vai trò tham mưu chiến lược điều hành kinh tế vĩ mô.
Ông nói thêm "thu ngân sách, điều hành chi tiêu đến huy động vốn đầu tư phát triển sẽ phải được nâng tầm, bảo đảm chủ động, linh hoạt và hiệu quả".

Tân Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn. Ảnh: MOF
Thực tế, bức tranh tài khóa 5 năm qua với nhiều gam màu sáng là nền tảng cho nhà điều hành. Tổng thu ngân sách 2021-2025 ước đạt 9,75 triệu tỷ đồng, vượt mục tiêu đề ra nhờ cải cách quản lý thuế và số hóa. Chi thường xuyên được siết chặt, giúp bội chi ngân sách neo ở mức thấp 3,1-3,2% GDP. Đặc biệt, nợ công giảm từ 42,7% GDP năm 2021 xuống quanh 36-37% GDP vào 2025, thấp hơn nhiều mức trần Quốc hội cho phép.
TS Nguyễn Quốc Việt, chuyên gia chính sách công Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội), cho rằng dư địa tài chính này cho phép "Chính phủ mạnh dạn huy động vốn cho các dự án hạ tầng quy mô lớn mà vẫn đảm bảo an toàn tài chính quốc gia".
Cơ cấu thu ngân sách cũng đang chuyển dịch theo hướng bền vững hơn khi các nguồn thu chủ lực (trừ từ dầu thô) đều tăng. Năm ngoái, tỷ trọng thu nội địa chiếm hơn 86% tổng thu ngân sách nhà nước. Thu từ xuất nhập khẩu cũng tăng gần 18% so với cùng kỳ năm 2024 nhờ tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ghi nhận mức kỷ lục hơn 920 tỷ USD.
Riêng khoản thu từ dầu thô giảm 18% so với cùng kỳ 2024. Việc ngân sách không còn phụ thuộc nhiều vào tài nguyên, như dầu thô, mà dựa vào nội lực của nền kinh tế cho thấy "sức khỏe" tài chính công ngày càng vững chắc hơn trước các cú sốc từ bên ngoài.
Tuy nhiên, ông Việt lưu ý "điểm tựa" này có thể lung lay nếu nguồn thu tiếp tục phụ thuộc vào các khoản mang tính chu kỳ, như đất đai. Giới chuyên môn từng dẫn thống kê từ năm 2005 đến nay cho thấy tỷ lệ thu ngân sách từ đất, gồm tiền sử dụng đất là lớn nhất, chiếm 13,1-16% tổng thu nội địa. Dòng tiền này lại phụ thuộc vào biến động thị trường bất động sản.
TS Việt cho rằng, thu ngân sách hiện có dấu hiệu chững lại do hiệu ứng nền cao từ các năm trước và khó khăn nội tại của nền kinh tế. Điều này đặt ra rủi ro hụt thu trong thời gian tới.
Tiếp đến là áp lực tháo gỡ điểm nghẽn giải ngân đầu tư công. Giai đoạn 2021-2025, dù giá trị giải ngân năm sau luôn cao hơn năm trước, tình trạng chậm tiến độ vẫn chưa được khắc phục dứt điểm. Hạn chế mang tính chu kỳ của giải ngân vốn công là thường xuyên bị "dồn toa" vào quý cuối năm. Đơn cử năm ngoái, theo dữ liệu của Bộ Tài chính đến cuối tháng 11 còn hơn 360.000 tỷ đồng (tương đương khoảng 40% kế hoạch) vẫn chưa thể giải ngân.
Chậm giải ngân ảnh hưởng đáng kể tới sức bật của nền kinh tế, bởi đầu tư công vẫn được xem là động lực tăng trưởng quan trọng. Theo tính toán trong giai đoạn 2021-2025, tỷ lệ giải ngân vốn công tăng 1%, GDP có thêm 0,058 điểm phần trăm.
"Nhà điều hành cần cải cách thể chế để giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, giúp khu vực tư nhân hấp thụ vốn hiệu quả hơn", ông Việt nêu quan điểm. Cùng với đó, mô hình đối tác công - tư (PPP) cần minh bạch hơn để kích hoạt dòng vốn tư nhân và nước ngoài vào các lĩnh vực hạ tầng xanh, công nghệ cao.
Ngoài thể chế, TS Lê Xuân Trường (Học viện Tài chính) lưu ý ngành tài chính cũng cần gắn việc phân bổ ngân sách với các chỉ số KPI đo lường được. "Cần kiên quyết cắt giảm các khoản chi kém hiệu quả để dồn lực cho hạ tầng trọng điểm, không dàn trải", ông nói thêm.
Tìm "điểm tựa" vốn ngoài ngân sách cũng là thách thức với tân Bộ trưởng Tài chính ở nhiệm kỳ này. Để giữ nhịp tăng trưởng liên tục trên 10% mỗi năm trong 5 năm tới, nền kinh tế cần "bơm" khoảng 8,22 triệu tỷ đồng vốn đầu tư công - gấp gần 3 lần giai đoạn trước. Dòng vốn này, theo Chính phủ, sẽ được ưu tiên tối đa cho các dự án mang tính đột phá, chuyển đổi và xoay chuyển tình thế như dự án trọng điểm, chiến lược quốc gia.
Bài toán này đặt ra áp lực điều hành khi chính sách tài khóa phải đảm bảo chính sách tài khóa linh hoạt, được "mở van" đúng lúc, hỗ trợ tăng trưởng. Đồng thời, kỷ luật ngân sách cũng cần được siết chặt để không tạo áp lực trả nợ quá lớn cho giai đoạn sau.
Trong khi vốn ngân sách có hạn, các kênh huy động vốn dài hạn như thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp chưa phát triển tương xứng. Điều này khiến tín dụng ngân hàng trở thành kênh dẫn vốn chủ lực. TS Việt cho rằng lúc này tân Bộ trưởng Tài chính cần có các quyết sách mạnh mẽ để vực dậy thị trường trái phiếu doanh nghiệp - mạch máu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế, qua đó giảm áp lực nợ xấu cho hệ thống ngân hàng.
Ông đề xuất cần thiết lập cơ chế đặc thù (sandbox thể chế) để xử lý dứt điểm nợ xấu, khơi thông các dự án "đắp chiếu" trong lĩnh vực bất động sản, năng lượng. "Việc này giúp giảm áp lực vốn cho hệ thống ngân hàng, tạo dư địa tài khóa mà Nhà nước không phải bơm thêm tiền trực tiếp", ông Việt bình luận.
Cùng quan điểm, TS Lê Xuân Trường (Học viện Tài chính) cho rằng nhà chức trách cần hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường chứng khoán, cũng như đẩy nhanh hoàn thiện các trung tâm tài chính tại Đà Nẵng, TP HCM theo chuẩn quốc tế.
Dù vậy, yếu tố quyết định thành công của chính sách tài khóa vẫn là con người. TS Trường cho rằng đội ngũ công chức ngành tài chính cần đáp ứng tốt nhất yêu cầu về tư duy - kỹ năng số, đồng thời phải có nhiệt huyết và liêm chính.
"Thực tế, một số cơ quan nhà nước và chính quyền địa phương thực thi không đúng chủ trương tạo điểm nghẽn trong điều hành. Do đó, cần xử lý vấn đề này để tăng hiệu quả chính sách", ông nói thêm.
Phương Dung




































