"Chúng ta chính thức tuyên bố điều này. Từ nay, lĩnh vực bưu chính, viễn thông bắt đầu tham gia dẫn dắt toàn cầu", Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nói tại Hội nghị triển khai công tác năm 2026 của khối Bưu chính - Viễn thông, diễn ra chiều 10/1.

Hội nghị nằm trong chuỗi chương trình tổng kết năm 2025, triển khai công tác năm mới của các khối đơn vị trong Bộ Khoa học và Công nghệ. Tại đây, Bộ trưởng dành nhiều thời gian chia sẻ về định hướng mở rộng không gian phát triển cho Bưu chính và Viễn thông - những lĩnh vực mà ông cho rằng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nhưng đang dần trở nên "già cỗi".

LQ-08378i-7457-1768105576.jpg?w=680&h=0&q=100&dpr=1&fit=crop&s=fkbvBPxV0w366LWxgaeb4w

Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng tại Hội nghị Triển khai công tác năm 2026 khối Bưu chính - Viễn thông, ngày 10/1. Ảnh: Lưu Quý

Theo Bộ trưởng, Việt Nam hiện có vị thế lớn hơn với dân số đứng thứ 15, nền kinh tế trong nhóm 30-40 toàn cầu. Các lĩnh vực tại Việt Nam sau khi đã làm tốt ở trong nước, cần tìm cách vươn ra nước ngoài, để "từ chỗ đi theo, tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế, nay tiến tới việc thiết lập các tiêu chuẩn để dẫn dắt cuộc chơi toàn cầu". Ông yêu cầu các đơn vị cần có nhân sự hiện diện tại các tổ chức quốc tế, nhằm đóng góp cho thế giới, từ đó mang lại lợi ích cho Việt Nam.

Trước sự có mặt của lãnh đạo, nhân viên sáu đơn vị trong Bộ gồm Vụ Bưu chính, Cục Viễn thông, Cục Tần số, Cục Bưu điện Trung ương, Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC) và Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích và một số lãnh đạo doanh nghiệp bưu chính viễn thông lớn trong nước, ông yêu cầu sự thay đổi tư duy và mở rộng không gian phát triển cho lĩnh vực.

"5G chỉ để xem video nét hơn thì là thất bại về mặt kinh tế"

Ví dụ về vai trò của 5G được Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nêu ra nhằm yêu cầu lĩnh vực bưu chính viễn thông nhìn nhận lại về mô hình kinh doanh hiện nay, từ đó đặt ra các yêu cầu phải xác định nghiên cứu và phát triển (R&D) là nhiệm vụ trọng tâm, đồng thời gắn chặt ngành với sự phát triển của kinh tế.

Trong phát biểu của mình, Bộ trưởng thẳng thắn nhìn nhận ngành viễn thông Việt Nam hiện nay không còn "trẻ", đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử trong giai đoạn phổ cập kết nối cố định và di động, đưa Internet đến với mọi người dân, tạo nền móng cho chuyển đổi số quốc gia. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng dựa trên thuê bao, lưu lượng và doanh thu bình quân trên một thuê bao (ARPU) hiện đã chạm trần.

Điều này dẫn đến thực tế, trong khi dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và kinh tế số tăng trưởng nhanh, thì doanh thu viễn thông lại tăng chậm. Theo Bộ trưởng, nguyên nhân không nằm ở công nghệ hay chất lượng mạng lưới, bởi hạ tầng viễn thông Việt Nam thuộc nhóm tốt trong khu vực và các doanh nghiệp đang sở hữu đội ngũ kỹ sư mạnh. Vấn đề cốt lõi nằm ở mô hình kinh doanh và mô hình phát triển.

Lấy ví dụ về 5G, Bộ trưởng nhấn mạnh công nghệ này không thể chỉ được nhìn nhận ở tốc độ cao hơn. "Nếu 5G chỉ để xem video nét hơn hay tải dữ liệu nhanh hơn thì sẽ thất bại về mặt kinh tế", ông nói. Theo Bộ trưởng, 5G chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi sâu vào các nhà máy, cảng biển, logistics, y tế, năng lượng, đô thị, trở thành hạ tầng của sản xuất và các dịch vụ giá trị cao. Muốn làm được điều đó, ngành viễn thông phải đi sâu vào nhu cầu của các ngành khác, là những người nghiên cứu trước các kịch bản ứng dụng, thay vì chờ các ngành khác tự tìm cách triển khai.

Theo ông, trong suốt một thời gian dài, hoạt động nghiên cứu trong các doanh nghiệp viễn thông gần như không được đặt đúng vị trí, khi họ chủ yếu vẫn là xây dựng hạ tầng và kinh doanh dịch vụ kết nối, hay "bán SIM, bán dung lượng". Tuy nhiên khi viễn thông đã trở thành hạ tầng của nền kinh tế, yêu cầu đặt ra là viễn thông phải cung cấp được "năng lực số" để các doanh nghiệp và các ngành khác sử dụng, từ đó tạo ra sản phẩm, dịch vụ và giá trị mới cho nền kinh tế.

Năng lực số được hiểu là cung cấp trọn gói như điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, bảo mật, Internet vạn vật và các nền tảng số, Theo Bộ trưởng, ngành Viễn thông với đặc điểm hạ tầng rộng khắp, dữ liệu lớn, độ phủ cao và đặc biệt là sự tin cậy, là lợi thế mà ít lĩnh vực nào có được. Vì vậy, doanh nghiệp viễn thông cần là người đứng ra kết nối, đóng gói và tích hợp các thành tố đó để cung cấp cho thị trường, dù không nhất thiết phải sở hữu toàn bộ.

Đồng thời, thay vì cạnh tranh với các startup công nghệ, họ cần mở hạ tầng để trở thành nền tảng cho hàng chục nghìn doanh nghiệp công nghệ số cùng tham gia sáng tạo, giải quyết các bài toán của nền kinh tế và xã hội.

Từ yêu cầu về thay đổi mô hình kinh doanh và đẩy mạnh nghiên cứu, Bộ trưởng đưa ra những gợi mở chuẩn mực mới đối với nhân lực nghiên cứu trong doanh nghiệp viễn thông và bưu chính. Theo ông, với các doanh nghiệp có quy mô khoảng 50.000 lao động, ít nhất 10% nhân lực cần làm công tác R&D và về lâu dài tỷ lệ này phải hướng tới 20%.

"Có thể chưa doanh nghiệp nào hiện nay nghĩ đến việc có 10.000 người làm nghiên cứu, nhưng nếu không làm như vậy thì sẽ không có cơ hội phát triển trong tương lai", Bộ trưởng nói. Ông cho rằng nghiên cứu trong giai đoạn này không chỉ nhằm phát triển công nghệ, mà là để khai thác hiệu quả những hạ tầng đã đầu tư.

Nhắc đến việc hợp nhất Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ trưởng đánh giá đây là điều kiện tốt để khối viễn thông cộng hưởng trực tiếp với khối khoa học - công nghệ đúng vào thời điểm ngành cần chuyển hướng mạnh sang nghiên cứu - phát triển.

Liên quan đến vai trò quản lý nhà nước, Bộ trưởng nhấn mạnh Nhà nước sẽ không tiếp tục giữ viễn thông trong "vùng an toàn" như nhiều thập kỷ trước. Theo ông, việc giữ ngành trong trạng thái ổn định kéo dài đã khiến viễn thông chậm mở ra các động cơ tăng trưởng mới. Trong giai đoạn tới, quản lý nhà nước sẽ chuyển từ quản lý hạ tầng đơn thuần sang quản trị hạ tầng chiến lược quốc gia; từ mục tiêu ổn định sang kiến tạo phát triển; từ cơ chế cấp phép hành chính sang thiết kế luật chơi mới và các khung chính sách thử nghiệm.

Về lĩnh vực bưu chính, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng đây là lĩnh vực đang "trẻ lại", với tốc độ tăng trưởng nhanh trong khoảng 10 năm gần đây nhờ thương mại điện tử. Tuy nhiên, theo Bộ trưởng, nếu không đổi mới ngay từ thời điểm đang tăng trưởng tốt, bưu chính có thể lặp lại quỹ đạo của viễn thông, tức là phải trải qua một giai đoạn chững lại kéo dài trước khi tìm được động lực tăng trưởng mới. "Bưu chính cần đổi mới ngay từ khi đang tốt, tức là ngay bây giờ", ông nhấn mạnh.

Theo Bộ trưởng, bưu chính cần chuyển trọng tâm từ thư từ, bưu phẩm, bưu kiện sang hạ tầng bưu chính số, logistics, địa chỉ số, chia sẻ dữ liệu bưu chính và các công nghệ giao hàng thích ứng với thương mại điện tử và kinh tế số. Ông cho rằng hệ sinh thái bưu chính số cần được mở rộng theo không gian số, bao gồm kho ảo, dữ liệu số và mạng lưới logistics hoàn chỉnh.

Theo ông, việc sửa đổi Luật Bưu chính năm 2026 sẽ hướng tới mục tiêu mở rộng không gian phát triển cho bưu chính ít nhất gấp bốn lần hiện nay, qua đó tạo dư địa và sân chơi mới cho thị trường. Bộ trưởng cũng đề cập khả năng nghiên cứu thành lập Quỹ bưu chính công ích, tương tự mô hình Quỹ dịch vụ viễn thông công ích đã góp phần quan trọng vào việc phổ cập hạ tầng viễn thông trên phạm vi toàn quốc.

lq-08428-1768105439-5592-1768105576.jpg?w=680&h=0&q=100&dpr=1&fit=crop&s=RszD5k4iZ4X3QWgUmk3k6g

Hội nghị Triển khai công tác năm 2026 khối Bưu chính - Viễn thông, ngày 10/1. Ảnh: Lưu Quý

Định hướng mới cho khối Bưu chính - Viễn thông

Trong năm qua, lĩnh vực bưu chính - viễn thông tại Việt Nam đạt được nhiều kết quả tích cực, với sự bứt phá của hạ tầng số Việt Nam cả về tốc độ, quy mô và độ bao phủ.

Giai đoạn 2020 - 2025, lĩnh vực bưu chính có tăng trưởng doanh thu bình quân 18,6%/năm, tăng trưởng sản lượng bưu gửi bình quân 31,5%/năm. Năm 2025, doanh thu dịch vụ bưu chính đạt 87.000 tỷ đồng, đạt 4,2 tỷ bưu gửi. Ngoài ra, tốc độ Internet tăng 1,7 lần so với năm 2024, đạt 280 Mbps, xếp thứ 11 thế giới; 5G tăng trưởng đột phá với vùng phủ từ 0,93% năm 2023 lên hơn 90%, số trạm đạt trên 35.000; thêm hai tuyến cáp quang biển quốc tế mới (ADC, SJC2) đi vào hoạt động, tổng dung lượng tăng gần năm lần. Việt Nam cũng được Gartner ghi nhận là 1 trong 5 quốc gia đầu tiên sản xuất được thiết bị 5G.

Ghi nhận các kết quả tích cực từ hoạt động của các đơn vị, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng đã chỉ rõ các yêu cầu đổi mới cụ thể đối với từng đơn vị trong khối, coi đây là điều kiện để hiện thực hóa cuộc chuyển đổi của bưu chính - viễn thông trong giai đoạn tới.

Đối với Vụ Bưu chính, Bộ trưởng cho rằng chuyển dịch quan trọng nhất trong giai đoạn tới là phát triển bưu chính số và logistics. Theo ông, bưu chính số không chỉ là số hóa quy trình, mà là xây dựng hệ thống địa chỉ số và đường dẫn số tới từng hộ gia đình, cá nhân. Đây là lần đầu tiên dữ liệu được xác định là tài sản then chốt để thay đổi cách thức vận hành của ngành bưu chính. Nếu làm được, bưu chính có thể tạo ra một không gian logistics hoàn toàn mới và chiếm lĩnh thị phần lớn.

Bộ trưởng cũng nhấn mạnh yêu cầu chuyển dịch không gian hoạt động của bưu chính từ 2D sang 3D, bằng cách ứng dụng drone, robot và phát triển kinh tế tầm thấp. Theo định hướng này, không gian phát triển của bưu chính cần được mở rộng ít nhất gấp bốn lần so với hiện nay, và trong giai đoạn 2030-2035, quy mô của bưu chính có thể vượt viễn thông. Việc sửa đổi Luật Bưu chính dự kiến năm 2026, theo Bộ trưởng, không chỉ nhằm mở rộng không gian phát triển, mà còn tạo khuôn khổ cho mô hình doanh nghiệp bưu chính thế hệ mới, vận hành trên nền tảng số và logistics thông minh.

Đối với Cục Viễn thông, Bộ trưởng định hướng chuyển đổi từ quản lý mạng viễn thông đơn thuần sang quản lý hạ tầng số quốc gia, như Internet, trung tâm dữ liệu, dữ liệu, điện toán đám mây, AI và các nền tảng số. Theo ông, quản lý nhà nước trong lĩnh vực này cần chuyển từ tiếp cận hành chính sang kiến tạo cạnh tranh và xây dựng thị trường viễn thông thế hệ mới. Viễn thông không còn là một ngành hoạt động độc lập, mà phải gắn chặt với các mục tiêu kinh tế - xã hội, như sản xuất, cảng biển, cửa khẩu thông minh và khu công nghiệp.

Ông nhấn mạnh viễn thông phải trở thành hạ tầng của nền kinh tế, trong đó nhà mạng thế hệ mới đóng vai trò là công cụ và phương tiện sản xuất cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp sử dụng dịch vụ viễn thông để tạo ra sản phẩm và dịch vụ của chính mình, thay vì chỉ là người tiêu dùng kết nối. Trong năm 2026, Bộ trưởng đề nghị tập trung thực hiện hai mục tiêu lớn: phổ cập điện thoại thông minh tới 100% người dùng di động, và nâng cao chất lượng hạ tầng với vùng phủ 99% dân số, tốc độ trung bình đạt 200 Mbps; riêng vùng sâu, vùng xa, tốc độ tối thiểu phải đạt 100 Mbps. Theo ông, việc hoàn thành các mục tiêu này có thể đóng góp thêm 1-2% tăng trưởng GDP, góp phần vào mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam.

Đối với Cục Tần số vô tuyến điện, Bộ trưởng yêu cầu chuyển đổi từ quản lý cấp phép sang quản trị tài nguyên tần số. Ông phân biệt rõ giữa "quản lý" với trọng tâm là tuân thủ, kiểm soát, thủ tục, và "quản trị" với mục tiêu tạo ra giá trị mới, hiệu quả kinh tế và tác động dài hạn. Theo Bộ trưởng, nếu tần số 5G chỉ được nhìn nhận như một tài sản để đấu giá thu ngân sách, thì đó mới là quản lý; còn quản trị phải coi tần số là công cụ thúc đẩy phủ sóng, mở rộng người dùng và phát triển dịch vụ.

Bộ trưởng cũng nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ quản lý tĩnh sang quản lý linh hoạt theo công nghệ mới, hình thành các mô hình cấp phép đa dạng như cấp phép theo thời gian, thử nghiệm, hoặc dùng chung. Song song với đó, Cục Tần số được gợi mở cần chuyển từ quản lý kỹ thuật sang kiến tạo thị trường tần số, xây dựng chuẩn mực quốc gia và hướng tới một thị trường tần số minh bạch, hiệu quả, nơi việc mua bán, chuyển nhượng tần số có thể diễn ra thuận lợi.

Với Cục Bưu điện Trung ương, Bộ trưởng định hướng chuyển đổi từ hạ tầng số thông thường sang hạ tầng số đặc biệt phục vụ Đảng và Chính phủ, với mạng truyền dẫn vươn tới tận cấp xã, đồng thời bổ sung quản lý trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây và AI của Chính phủ. Ông nhấn mạnh vai trò của các mạng đặc biệt như mạng sóng ngắn, mạng điện thoại cáp quang mã hóa không kết nối với mạng công cộng, coi đây là yếu tố cốt lõi tạo nên bản sắc và vai trò riêng của Cục. Theo Bộ trưởng, đơn vị này cần chuyển từ vị thế đi sau về công nghệ sang đi trước đón đầu, đặc biệt trong lĩnh vực mã hóa, nhằm đáp ứng yêu cầu bảo mật ở mức cao nhất.

Đối với Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC), Bộ trưởng yêu cầu chuyển từ vai trò quản lý tài nguyên sang vai trò kiến trúc sư hạ tầng Internet quốc gia. Ông đặt vấn đề về khả năng vận hành Internet Việt Nam trong các kịch bản rủi ro như mất kết nối quốc tế hay đứt cáp biển, cho rằng VNNIC phải là đơn vị kiến trúc và chuẩn bị cho những tình huống đó. Theo Bộ trưởng, VNNIC cần nâng tầm từ việc tập trung vào IPv6 sang kiến trúc Internet bền vững, độc lập, đảm bảo chủ quyền và khả năng sống còn của mạng lưới.

Cuối cùng, với Quỹ dịch vụ viễn thông công ích, Bộ trưởng định hướng chuyển từ phổ cập dịch vụ viễn thông sang phổ cập các dịch vụ số cơ bản. Theo ông, phổ cập hiện nay không chỉ là dịch vụ thoại, mà là hạ tầng để người dân vùng sâu, vùng xa có thể học tập, khám chữa bệnh từ xa. Quỹ cần được tiêu chuẩn hóa để triển khai nhanh đầu tư hạ tầng, kết hợp cả BTS và vệ tinh tầm thấp, đảm bảo di động phổ cập với tốc độ tối thiểu 100 Mbps ngay cả ở những khu vực khó khăn.

Chỉ đạo chung cho các đơn vị, Bộ trưởng yêu cầu chuyển đổi số toàn diện, đưa mọi hoạt động của đơn vị lên môi trường số, xây dựng các nền tảng dùng chung để phục vụ quản lý cũng như kết nối với các đối tượng quản lý.

"Thực hiện truyền thông đại chúng để mọi người dân hiểu, gần gũi với bưu chính viễn thông như hơi thở hàng ngày", Bộ trưởng nói.

Với các định hướng, Thứ trưởng Phạm Đức Long - phụ trách khối Bưu chính - Viễn thông trong Bộ, cùng lãnh đạo các đơn vị cảm ơn Bộ trưởng, đồng thời cam kết sẽ thực hiện các chỉ đạo.

"Chúng tôi sẽ nỗ lực hết sức để thực hiện nghiêm, đạt được các chỉ tiêu, mục tiêu mà lãnh đạo Bộ giao", ông Nguyễn Thành Chung, Cục trưởng Viễn thông, đại diện lãnh đạo các đơn vị đáp lời.

Lưu Quý

Góp ý kiến tạo
Bạn có thể đặt mọi câu hỏi, vấn đề về Khoa học công nghệ, Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi số trực tiếp cho Bộ Khoa học và Công nghệ
Gửi góp ý

Nguoi-noi-tieng.com (r) © 2008 - 2022